Hiển thị các bài đăng có nhãn LỚP 10. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỚP 10. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

BÀI 1 : ĐÀ NẴNG TỪ KHỞI THỦY ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX ( PHẦN 3 , 4 )

3. Quần đảo Hoàng Sa - vùng lãnh thổ thiêng liêng của Đại Việt

         Ngay từ thời Hùng Vương, tổ tiên chúng ta đã biết khai thác biển ; lúc đầu là đánh bắt hải sản              ven bờ, rồi tiến ra các đảo và vùng biển xa hơn. Các triều đại phong kiến Việt Nam sau này đều           thấy rõ vai trò của biển đối với sự phát triển kinh tế và quốc phòng an ninh. 
Thời Ngô-Đinh-Tiền Lê, kĩ thuật đóng tàu, xây dựng  thủy quân, rèn luyện kỹ năng chiến đầu trên sông, biển được chú trọng. Ngô Quyền đã dàn thế trận cắm cọc gỗ trên cửa sông Bạch Đằng, lập mưu đánh tan thủy quân của nhà Nam Hán.
Thời Lý, vua Lý Anh Tông đã đi tuần các hải đảo, xem hình thế núi sông, xác định địa giới các phiên bang Nam-Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật... Thời Trần và đặc biệt là dưới thời Lê, tiến ra biển Đông đã trở thành chiến lược phát triển của quốc gia Đại Việt. Con đường mở mang bờ cõi xuống phía Nam của người Việt cũng đồng thời là con đường tiến ra chiếm lĩnh biển, đảo.
Thời Trần đã xuất hiện những pháo thuyền - đại chiến thuyền hay còn gọi là đại chiến hạm có khả năng đi biển xa. Dưới thời Lê, kĩ thuật đóng thuyền bè tiến thêm một bước, đáp ứng nhu cầu chinh phạt và quản lí lãnh thổ ngày một mở rộng. Kĩ thuật chiến đấu trên biển cũng thuần thục hơn. Điển hình là trận thủy chiến ở khu vực cảng Vân Đồn do Trần Khánh Dư chỉ huy; cuộc hành quân đại quy mô vào kinh Vijaya của Vương quốc Champa dưới sự chỉ huy của Lê Thánh Tông.
Từ đầu thế kỉ XVI - XVII, các chúa Nguyễn ở Đàng trong đã chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buồn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và đã chiếm lĩnh các quần đảo giữa biển Đông. Biểu hiện rõ nhất là sự ra đời và hoạt động liên tục của Đội Hoàng Sa.
Chủ quyền của quốc gia Đại Việt trên quần đảo Hoàng Sa cũng như một số đảo được thể thiện trong nhiều thư tịch cổ như Hồng Đức bản đồ, Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, Phủ biên tạp lục, Lịch triều hiến chương loại chí và Đại Nam thực lục tiền biên...
Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư ( Nguồn : biengioilanhtho.gov.vn )
Bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá soạn vẽ vào thế kỉ XVII. Lời chú giải trên bản đồ
khu vực phủ Quảng Ngãi ghi rõ : " Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng"
," do họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hóa vật..."

Đội Hoàng Sa là lực lượng chuyên nghiệp, khai thác các nguồn lợi hải sản tại quần đảo Hoàng Sa, liên tục qua các đời từ đầu thời chúa Nguyễn sang thời Tây Sơn, đồng thời bắt đầu quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này.
Trong quá trình chinh phục biển cả, đặc biệt là thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX, ông cha ta khám phá, khai thác quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Ông cha ta đã xác lập và thực thi chủ quyền ở hai quần đảo này bằng các việc cắm mốc, đo đạc, vẽ bản đồ và hằng năm cử người ra kiểm tra, thu hồi sản vật...
Đó là những chứng cứ lịch sử khẳng định Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Hồng Đức bản đồ (1774) ( Nguồn biengioilanhtho.gov.vn )

Đây là bản đồ vẽ rõ địa thế xứ Đàng Trong cuối thế kỉ XVIII, từ Đồng Hới đến biên giới Cao Miên, do Đoan Quận công Bùi Thế Đạt vẽ dâng lên chúa Trịnh năm 1774 để phục vụ chiến dịch Nam tiến năm 1775. Trên bản đồ, Bãi Cát Vàng được vẽ ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi.

Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (được coi là tài liệu có giá trị tiêu biểu nhất) viết : "Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên nuiscos chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy... Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vinh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 tàu, như là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiến, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kì tháng 8  thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về...". ( Nguồn hoangsa.danang.gov.vn )
4. Đà Nẵng và Hội An trong các thế kỉ XVI - XIX
Cửa biển Đà Nẵng và cửa biển Hội An ngày nay
"Quảng Nam có hai ngả vào. Hai cửa ấy là cửa bể Cù lao Chàm và Đà Nẵng, hai cửa bể ấy ban đầu xa nhau cách nhau ban đầu cách xa nhau ba, bốn dặm rồi rẽ ra xa nhau mà đi sâu vào nội địa như hai con sông lớn lớn cách biệt nhau. Sau cùng, gặp nhau ở một địa điểm, ở đó thấy nhiều tàu thuyền vào bằng cửa này hay cửa khác " (Giáo sĩ Christoforo Borri).
Từ xa xưa, Đà Nẵng và Hội An đã có một sự liên lạc mật thiết với nhau qua một con đường thủy là sông Cổ Cò. Tàu thuyền nước ngoài từ phương Bắc và Đông Bắc (Trung Hoa, Nhật Bản, Philippines,...) đến Hội An theo cửa biển Đà Nẵng, ngược sông Hàn và sông Cổ Cò sẽ rút ngắn được 1/3 lộ trình vì khỏi phải đi vòng qua bán đảo Sơn Trà và tránh được cảnh sóng to gió lớn có thể xảy ra.
Về phương diện thông thường qua hải khẩu, cửa biển Đà Nẵng và Đại Chiêm (Cửa Đại) đóng vai trò như nhau. Theo đó, Sở Tuần Đà Nẵng vừa đảm nhận trách nhiệm của một cơ quan kểm soát an ninh vừa có trách nhiệm của cơ quan kiểm soát thuế quan. Sau khi thực hiện xong tất cả các thủ tục nhập cảnh tại Đà Nẵng, các thương thuyền mới được phép ngược sông Hàn và sông Cổ Cò để vào biển Hội An, nơi mà dân địa phương gọi là Phố (trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn gọi là Bến Phố).
Cũng có trường hợp một số tàu buôn phương Tây không vào Hội An mà bỏ neo ngay tại cửa bến Đà Nẵng, vì Hội An trước sau chỉ là một giang cảng, cách biển dưới 7km, không đủ sâu và rộng để dung chứa các thuyền lớn của phương Tây. Một khi các thuyền đó không vào được Hội An thì việc bốc xếp hàng hóa phải được thực hiện ngay tại bến cảng Đà Nẵng. Như vậy, dù nhiều hay ít, Đà Nẵng cũng phải có cơ sở để giao dịch và lưu trữ hàng hóa.
"Người ta có thể cho thuyền chạy khắp bờ biển mà không gặp tai nạn. Đáy biển sâu đều đặn từ 17 đến 20 sải. Vịnh Đà Nẵng xứng đáng mang danh là cảng lớn và vững chắc nhất(mà sứ đoàn) đã trông thấy. Nó rất sâu, nên khi cần thiết phải di chuyển, các tàu bè vẫn yên ổn dù gió to bão lớn. Đáy biển đầy bùn nên thuyền bỏ neo rất bám" (Nhận xét của một thành viên trong sứ đoàn của nước Anh do Macartney dẫn đầu ghé Đà Nẵng năm 1793).
Từ khi sông Cổ Cò và cửa biển Đại Chiêm bị bồi lấp dần, tàu thuyền lui tới Hội An giảm sút, vịnh Đà Nẵng càng trở nên nhộn nhịp.
Đoàn thương thuyền của Pháp gặp đại diện của chú Nguyễn bên bờ vịnh Đà Nẵng năm 1749 ( Nguồn : baodanang.vn )

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016

BÀI 1 : ĐÀ NẴNG TỪ KHỞI THỦY ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX ( PHẦN 1 , 2 )

1 . Dấu tích thời nguyên thủy
 Cách đây hàng nghìn năm , Đà Nẵng cũng như phần lớn dải đất ở ven biển miền Trung có chung một nền văn hóa : Văn hóa Sa Huỳnh , một trong ba cái nôi cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam. Văn hóa Sa Huỳnh cùng với văn hóa Đông Sơn , văn hóa Óc Eo tạo thành tam giác văn hóa của Việt Nam.
 Ở Đà Nẵng , các nhà khảo cổ đã phát hiện tại Bãi Nồm ( bán đảo Sơn Trà - 1992 ) những chiếc rìu đá có vai và nhiều mảnh gốm, một bàn mài bằng đá được xác định ở cuối thời kì đồ đá mới - đầu thời kì đồ kim khí. Ở Vường đình Khuê Bắc ( phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn - 2001 ) và nhiều nơi trên địa bàn thành phố cũng tìm thấy những hiện vật thuộc giai đoạn sơ kì kim khí. Đó là những bằng chứng lịch sử cho thấy Đà nẵng là một vùng đất có lịch sử khá lâu đời và con người đã có mặt ở đây từ rất sớm

Khuyên tai 2 đầu thú - đồ trang sức của
cư dân văn hóa Sa Huỳnh , thu nhập trong
đợt khảo sát khu mộ chum tại Đồi Vàng
( Đại Đồng - Đại Lộc - Quảng Nam ) năm 1979

( Nguồn : Bảo tàng Đà Nẵng )

Di chỉ văn hóa Sa Huỳnh được phát hiện vào năm 1909 khi các nhà khảo cổ tìm thấy một số lượng lớn quan tài bằng chum ( khoảng 200 chiếc ) bên đầm An Khê ( một đầm nước ngọt ở Sa Huỳnh , Đức Phổ , Quảng Ngãi ) . Các nhà khoa học gọi di chỉ khảo cổ đó là Kho chum Sa Huỳnh.
Đặc trưng khảo cổ của văn hóa Sa Huỳnh là ngoài táng thiêu dùm chum gốm làm quan tài , còn có mộ huyệt đất , mộ rải gốm . Đồ tùy táng ngoài đồ gốm , đồ đồng còn có đồ sắt . Điểm nổi trội mang tính chỉ thị đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh là những khuyên tai hình hai đầu thú bằng đá , bằng thủy tinh ; những khuyên tai ba mấu bằng đá quý , bằng thủy tinh ; những đồ trang sức bằng ngọc mã não. Bên cạnh các khu mộ táng còn có những khu di chỉ cư trú với tần văn hóa dày từ 1,5m đến 3m.

Khai quật cổ vật tại di chỉ khảo cổ Vườn đình Khuê Bắc
tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn ( mô hình tái
tạo tại Bảo tàng Đà Nẵng )

( Nguồn : Bảo tàng Đà Nẵng )
Tại khuôn viên của Vườn đình Khuê Bắc, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật được những vết tích liên quan đến nơi ở và nơi chôn cất của cư dân thuộc thời kì Tiền Sa Huỳnh, cách đây khoảng 3000 năm và một số hiện vật ở những lớp đất phía trên thuộc thời kì Champa sớm, cách đây gần 200 năm. Di chỉ khảo cổ này được đặt theo tên gọi của  đình ( Vườn đình Khuê Bắc )

2 . Đà Nẵng trở thành bộ phận lãnh thổ của Đại Việt

Trên cơ sở văn hóa Sa Huỳnh, ở khu vực đồng bằng ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ ngày nay đã hình thành quốc gia cổ Champa. Trong giai đoạn đầu, Đà Nẵng nằm gần trung tâm Vương quốc Champa (kinh đô Sinhapuara - nay thuộc Trà Kiệu - Quảng Nam ). Hiện nay, tại Đà Nẵng còn lưu giữ nhiều vết tích của văn hóa Champa.

Tượng Bồ tát Tara
Ngày 1-10-2012 , Thủ tướng chính phủ quyết định công nhận bảo vật quốc gia (đợt 1) cho 30 hiện vật, nhóm hiện vật. Trong số đó, Đà Nẵng sở hữu 3 hiện vật là tượng Bồ tát Tara, đài thờ Mỹ Sơn E1 và đài thờ Trà Kiệu. Cả 3 hiện vật này đều thuộc về nền văn hóa Champa và đang được lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khác Chăm Đà Nẵng.

1. Tượng Bồ tát Tara là tượng đồng lớn nhất trong phong cách điêu khác Champa được tìm thất từ trước đến nay. Tượng sử dụng kĩ thuật đúc đồng và chạm trổ mang nét đặc trưng, tiêu biểu cho phong cách Đồng Dương. Phong cách này tồn tại từ thế kỉ IX, mang nhiều nét bản địa Champa nhất. Theo các chuyên gia, đây là bức tượng đồng hoàn mĩ nhất, đẹp nhất và có kĩ thuật đúc đồng cao cùng kĩ thuật chạm khắc tinh xảo ; chính vì vậy, mặc dù đã hơn 1000 năm, tượng đồng vẫn không có dấu hiệu oxy hóa ; tiêu biểu cho giai đoạn đầu phong cách Đồng Dương và kĩ thuật đúc đồng.Tượng Bồ tát Tara thể hiện một thân hình phụ nữ đẹp với cổ cao ba ngấn ; bộ ngực tròn đầy với đôi vú hình bán cầu và gần nhau ; mông nở, vai rộng, đôi tay trần khỏe mạnh với đôi bàn tay xòe to đang cầm một vật gì đó bằng ngón cái và ngón trỏ một cách cân xứng và duyên dáng. Điểm độc đáo của tượng Bồ tát Tara là chiếc váy quấn ( ngôn ngữ Chăm gọi là sarong). Chiếc váy quấn có những đường nếp dọc, bó sát mình và buông dài đén mắt cá chân. Chạy dọc chính giữa sarong bên trong là các nếp xếp dọc theo thân. Ngoài chiếc sarong bên trong, tượng Tara còn mặc thêm bên ngoài một chiếc sarong nữa. Chiếc sarong bên ngoài được vận rất khéo: Sau khi đã choàng và ôm sát lấy hai chân ở phía sau, hai mép dưới được kéo chéo lên để vấn vào thành một dạng cạp váy trước bụng ; trong khi các tượng khác cùng phong cách thì thân giữa dài của sarong được vắt ra ngoài.

Đài thờ Mỹ Sơn E1
2. Đài thờ Mỹ Sơn E1 là đài thờ có niên đại sớm nhất ( thế kỉ VII - VIII ) còn lại nguyên vẹn nhất từ trước đến nay.
Điều độc đáo của đài thờ Mỹ Sơn E1 là trang trí chạm khắc tinh xảo xung quanh chân đài thờ. Các hình ảnh tái diễn sống động về sinh hoạt, các hoạt động trong rừng, chơi nhạc... cho đến nghi thức tế lễ tín ngưỡng của các tu sĩ Ấn Độ giáo ẩn dật, tu tập và hành đạo cách đây 1.300 - 1.400 năm. Đặc biệt, đài thờ đã phản ánh được mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Champa trong giai đoạn đầu.

Bố cục và điêu khắc trên đài thờ mang tính biểu tượng. Các trang trí trên đài thờ mô phỏng các trang trí kiến trúc của một ngôi tháp. Mặt trước có bậc cấp, có chạm khắc hình các vòm cửa và trụ cửa thu nhỏ. Ba mặt còn lại, mỗi mặt có một vòm cửa như cửa giả của tháp. ngoài ra còn có trang trí theo môtíp các trụ áp tường. Bản thân một ngôi tháp Chăm Hinđu giáo lại tượng trưng cho một ngọn núi, đỉnh núi là nơi ngự trị của thần linh ; vị thần cao nhất ở đây là thần Siva, với biểu tượng linga đặt ở giữa đài thờ.

3. Đài thờ Trà Kiệu là bước chuyển tiếp của phong cách điêu khắc Champa trong giai đoạn thế kỉ VII - X. Đây là đài thờ duy nhất, đặc trưng cho phong cách điêu khắc Trà Kiệu. Đài thờ là một câu chuyện thần thoại kể về đám cưới của Hoàng tử Rama và Công chúa Sita trong trường ca Ramayana huyền thoại. Với hình tượng yoni và linga phía bên trên, đài thờ Trà Kiệu là đài thờ Champa duy nhất còn lại tương đối nguyên vẹn với phần bệ vuông ở dưới và bệ yoni tròn ở trên. Cấu tạo của bệ yoni với hai thớt tròn đối xứng qua hai lớp cánh sen và một chiếc linga ba tầng đặt trong lòng là một cấu tạo tiêu biểu của tổ hợp yoni-linga trong văn hóa cổ Ấn Độ.
Đài thờ Trà Kiệu
 Đây cũng là một bệ thờ tiêu biểu cho loại bệ thờ Champa có phần chạm khắc nhiều nhân vật theo lối kể chuyện với một bố cục hoàn chỉnh và giàu tính nghệ thuật. Các đường nét điêu khắc hết sức tinh tế, sống động và phong phú, đủ để khai quát thành các tiêu chí nền tảng của một phong cách nghệ thuật ( búi tóc, dáng điệu, trang sức, y phục, hoa văn , bố cục, ) tiêu biểu cho một bước phát triển trong nghệ thuật Champa

                       ( Nguồn : Xuân Mai, laodong.com.vn )