Hiển thị các bài đăng có nhãn NỘI DUNG BÀI HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NỘI DUNG BÀI HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2016

BÀI 4: ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ , CỨU NƯỚC ( 1954 - 1975 ) VÀ THỜI KÌ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TỪ NĂM 1975 ( Phần 5 )

5. Quần đảo Hoàng Sa từ năm 1954 đến nay.

   Năm 1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lí của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ( chính quyền Sài Gòn ). Cũng trong thời gian này, Trung Quốc bí mật đưa quân ra chiếm nhóm đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa.

     Ngày 13 - 7 - 1961, Tổng thống Việt Nam Công hòa ra Sắc lệnh số 143/NV về việc tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Thừa Thiên để nhập vào tỉnh Quảng Nam và thành lập một đơn vị hành chính cấp xã lấy tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

     Ngày 21 - 10 - 1969, tại Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, xã Định Hải được sáp nhập vào xã Hòa Long, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

     Tháng 7 - 1971, tại Hội nghị ASPEC - Manila, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần văn Lắm đã tuyên bố khẳng định Hòa Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

     Tháng 1 - 1974, Trung Quốc đã dùng lực lượng quân sự đánh chiếm các đảo phía Tây, xâm chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa ra tuyên cáo kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lí và hòa bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc, buộc Trung Quốc chấm ngay hành động nguy hiểm đó và chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

     Cũng trong thời gian này,Chính chủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố nêu rõ lập trường của mình :

- Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.

- Vấn đề biên giới,lãnh thổ,các nước láng giềng thường có sự tranh chấp do lịch sử để lại,có khi rất phức tạp,cần được nghiên cứu kĩ.

- Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này theo tinh thần bình đẳng,tôn trọng lẫn nhau,hữu nghị và láng giềng tốt,và phải giải quyết bằng thương lượng.
Trích Tuyên bố 3 điểm của Chính phủ Cách Mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ngày 26 – 1 – 1974 ( Nguồn : UBND huyện Hoàng Sa, Kỷ yếu Hoàng Sa )
     Sau khi thống nhất đất nước, ngày 9 - 2 - 1982, Hội đồng Bộ trưởng nước ta đã ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng ( nay thuộc thành phố Đà Nẵng ) và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai ( nay thuộc tỉnh Khánh Hòa )

Lắp đặt bảng tên đường Hoàng Sa ( Nguồn : Hương Trà - Nguồn : www.tuoitre.vn )
Ngày 14 - 7 - 2010, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng đã thông qua việc đặt tên đường Hoàng Sa và Trường Sa. Theo đó, đường Hoàng Sa sẽ có chiều dài hơn 15km, bắt đầu từ Bãi Bắc ( bán đảo Sơn Trà ) và kéo dài tới đường Nguyễn Công Trứ. Còn đường Trường Sa có chiều dài gần 12km là khoảng cuối từ đường Nguyễn Công Trứ đến giáp ranh với địa phận tỉnh Quảng Nam.

     Ngày 1 - 5 - 2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây tác động tiêu cực đến an ninh và an toàn hàng hải ở khu vực. Các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam đã kiên trì thực hiện các biện pháp tuyên truyền và yêu cầu giàn khoan Hải Dương - 981 cũng như các lực lượng tàu và máy bay hộ tống của Trung Quốc rời khỏi cùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

     Tháng 6 - 2014, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác trong toàn quốc ra nghị quyết phản đối việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981. Đêm 15 - 7 - 2014, Trung Quốc đã phải rút giàn khoan, đoàn tàu và máy bay hộ tống khỏi vùng biển Việt Nam

     Từ sau ngày đất nước được hoàn toàn thống nhất đến nay, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên tục khẳng định, thực thi và bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa bằng những giải pháp và bước đi phù hợp để giữ vững chủ quyền và đảm bảo an ninh khu vực.

Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

BÀI 2 : ĐÀ NẴNG TỪ GIỮA THẾ KỈ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XX ( Phần 3 , 4 )

3. Đà Nẵng trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp

     Ngày 31- 8 - 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha gồm 2.350 quân với 16 chiến hạm tập kết tại vịnh Đà Nẵng.

    Mờ sáng ngày 1 - 9 -1858, Rigault de Genouilly cho người chuyển tối hậu thư tới quan trấn thủ Đà Nẵng, đòi quân ta phải đầu hàng và nộp toàn bộ vũ khí, đồn lũy trong vòng hai giờ. Không đợi đến hết thời gian như đã hẹn trong tối hậu thư, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã bắn pháo vào các vị trí đặt đại bác và các hải đài của ta ở phía Tây Nam bán đảo Sơn Trà. Tàu chiến của giặc thả neo ở cửa sông, pháo kích trực tiếp vào đồn Nại Hiên Đông, An Hải và Điện Hải. Đến khoảng 10 giờ sáng, quân Pháp đổ bộ chiếm đồn Nại Hiên Đông và An Hải.

     Các pháo đài của ta bắn trả rất quyết liệt nhưng không hiệu quả. Phần lớn đạn pháo của ta bắn không trúng mục tiêu và không có sức công phá vì ta không có loại đạn gây nổ công hay sát thương như của địch. Lực lượng đồn trú ở các đồn tiền tiêu phải tháo lui sau khi bị tiêu hao nặng nề. Đến chiều ngày 1 - 9 - 1858, các đồn của ta ở hữu ngạn ( phía đông ) đã bị hạ.

     Ngày 2 - 9 - 1858, quân Pháp tiếp tục tập trung hỏa lực đánh chiếm thành Điện Hải, căn cứ chủ yếu của Đà Nẵng. Sau khi chiếm được thành, chúng phá hủy kho tàng, vũ khí rồi xuống tàu quay về căn cứ ở Tiên Sa.
Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng (1858) ( Nguồn : baodanang.vn )
Rigault de Genouilly ( Nguồn : wikipedia.org )
Rigault de Genouilly - Thiếu tướng, Tổng chỉ huy lực lượng hải quân Pháp trên vùng Biển Đông ; được phong Phó thủy sư Đô đốc ngày 9 - 8 - 1858, trước khi sang Việt Nam giữ chức Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp. Ông ta là người trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công chiếm bán đảo Sơn Trà ngày 1 - 9 - 1858, mở đầu cuộc vũ trang xâm lược Việt Nam và tổ chức đánh chiếm thành Gia Định ngày 17 - 2 - 1859. Bị rút về nước ngày 1 - 11 - 1859. Ngày 19 - 1 - 1867, được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp.

     Sau khi nhận được tin quân Pháp gây hấn ở Đà Nẵng, triều đình đã điều quân tiếp viện và ứng cứu, Nguyễn Tri Phương được cử làm Tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam. Quân dân Đà Nẵng được huy động vào việc đắp chiến lũy, lập phòng tuyến với các đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, Nại Hiên, Nghi Xuân và thành Điện Hải... ngăn chặn quân Pháp tiến sâu vào nội địa. Nhân dân được lệnh làm "vườn không nhà trống" để quân Pháp không tuyển mộ được binh lính và không có người cung cấp lương thực, thực phẩm.
Tượng Nguyễn Tri Phương tại Bảo tàng Đà Nẵng ( Nguồn : panoramio.com )
Nguyễn Tri Phương ( 1800-1873 ), quê làng Đường Long, huyện Phong Điền ( nay là huyện Hương Điền, Thừa Thiên Huế ). Ông được vua Minh Mạng tin dùng, phong Tham tri Bộ Công. Đầu những năm 40 của thế kỉ XIX, ông làm Tổng đốc An Hà, đánh đẹp khởi nghĩa Lâm Xâm. Năm 1844, ông cùng Doãn Uẩn đánh sang Cao Miên, được thăng Thượng thư Bộ Công tước Tráng Liệt tử. Thời Tự Đức, ông giữ chức phụ chính đại thần, sung Kinh lược Nam Kì, lo công việc khẩn hoang lập ấp. Năm 1858, ông tổ chức phòng thủ Đà Nẵng chống hải quân Pháp. Pháp phải rút vào Gia Định. Năm 1860, ông làm Thống đốc quân vụ Gia Định, xây dựng hệ thống phòng thủ Nam Kì nhưng bị thất thủ ở Chí Hòa (1861). Sau hòa ước Nhâm Tuất (1862), ông ra Bắc dẹp khởi nghĩa Cai Vàng, làm Tổng đốc Hải An, đánh dẹp Tạ Văn Phụng. Năm 1871, ông làm Thượng thư Bộ Lại. Năm 1872, ông lại ra Bắc làm khâm mạng đại thần. Ngày 20 - 11 - 1873, Garnier đánh Hà Nội, ông bị trọng thương, con trai là phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Ông nhịn ăn tử tiết.

     Về phía liên quân Pháp - Tây Ban Nha, sau hơn 5 tháng bị giam chân tại chỗ, lực lượng bị hao mòn, thiếu lương thực, thiếu thuốc men và bệnh tật gia tăng..., kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh" đã bước đầu thất bại. Tháng 2 - 1859, phần lớn quân số của địch chuyển vào Gia Định, chỉ có một lực lượng nhỏ còn chiếm giữ bán đảo Sơn Trà
Nghĩa địa liên quân Pháp – Tây Ban Nha trên bán đảo Sơn Trà do Trung uý Treille xây dựng năm 1858 ( Nguồn : infonet.vn )
4. Địa danh Đà Nẵng qua các thời kì
Các địa danh “Cuham”, “Chean” , “Toron” trên Bản đồ Đàng Ngoài và Đàng Trong do lexandre de Rho­des vẽ năm 1653 ( Nguồn : Võ Văn Dật, Lịch Sử Đà Nẵng ( 1306 - 1975 ), NXB Nam Việt, 2007, tr.52 )
     Trong quá trình cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông, năm 1490 ( năm Hồng Đức thứ 21 ), nhà vua cho định lại bản đồ của các thừa tuyên. Các bản đồ này có liệt kê các cửa biển, thừa tuyên Quảng Nam có Hàn môn ( cửa Hàn ) - tên gọi cửa biển Đà Nẵng thời bấy giờ. Từ tên gọi "Hàn môn" ấy, nhiều địa danh gắn liền với "Hàn" lần lượt ra đời và đi vào lịch sử Đà Nẵng với tất cả những thăng trầm, thực hư như sông Hàn (Hàn giang), chợ Hàn (Hàn thị), phố Hàn (Hàn phố) như chúng ta thấy ngày nay.

     Địa danh cửa Hàn không những được lưu truyền rộng rãi trong dân gian mà còn được người châu Âu nhắc đến rất sớm. Cố đạo Buzomi đến Đàng. Trong vào năm 1615 và vào dịp lễ Phục sinh năm ấy, ông lập một nhà thờ nhỏ tại một nơi được ghi là Kean, địa danh này cũng đã được ghi lại trên tấm bản đồ nổi tiếng của Alexandre de Rhodes về năm 1653, nằm ở vị trí chân đèo Hải Vân. Địa danh Kean bắt nguồn từ cách gọi khá phổ biến đương thời, những nơi tập trung dân cư gọi là Kẻ (Kẻ Chợ) ; Kean được hiểu là Kẻ Hàn.

     Về địa danh Đà Nẵng, có thể xuất phát từ chữ Danak (có nghĩa là "sông lớn" hay "cửa sông cái" của người Chăm) ; hay trong chữ Hán, chữ "Đà" là sông nhánh, chữ "Nẵng" có nghĩa là xưa kia, ngày xưa. Đà Nẵng có nghĩa chung là "Ngày xưa là nhánh sông" hoặc "Nơi đây xưa kia là nhánh sông bị bồi lấp". Địa danh Đà Nẵng đã được ghi trên các bản đồ vẽ từ thế kỉ XVI trở đi (như An Nam hình thắng đồ, An Nam thông quốc toàn đồ).

     Theo sách Ô Châu cận lục (Dương Văn An soạn năm 1533) thì địa danh Đà Nẵng lần đầu tiên xuất hiện khi sách nhắc đến "một ngôi đền ở cửa biển Đà Nẵng" thờ một nhân vật từ thời Lê Thánh Tông.

     Ngoài ra, còn có một tên gọi dành cho thành phố Đà Nẵng nữa, nó tồn tại suốt trong thời gian alf nhượng địa của Pháp và trở thành địa danh hành chính chính thức trước đó cũng như cho đến nay nhiều người châu Âu vẫn còn quen gọi, đó là Tourane. Trong các bản đồ, sách vở, ghi chép của người Âu từ thế kỉ XVI, XVII , XVIII..., chúng ta thấy nhắc đến những địa danh như : Turon, Toron, Taraon, Touan, Touane, Touron và Tourane.

     Còn người Trung Hoa vẫn gọi nơi đây là Hiện Cảng. Chữ Hiện theo hai cách viết chữ Hán có nghĩa là "Cảng con hến" hoặc là "Cảng núi nhỏ mà hiểm" ; đều có thể giải thích là do hình thù của núi Sơn Trà được nhận thấy ngay từ ngoài khơi cửa biển Đà Nẵng.

     Ngoài ra, nhân dân địa phương vẫn có thói quen gọi vịnh Đà Nẵng là Vũng Thùng (Tai nghe súng nổ cái đùng / Tàu Tây đã lại Vũng Thùng bữa qua ! - Ca dao ) ; còn các nhà nho nói chữ thì gọi là Trà Úc, Trà Áo, Trà Sơn hay Đồng Long Loan.

     Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Tourane được mang tên Thái Phiên - nhà yêu nước nổi tiếng của Đà Nẵng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Duy Tân nổ ra vào năm 1916. Hai năm sau, thành Thái Phiên lại được đổi tên thành Đà Nẵng và tên gọi này được giữ cho đến ngày nay.

BÀI 2 : ĐÀ NẴNG TỪ GIỮA THẾ KỈ XIX ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XX ( Phần 1 , 2 )

1. Đà Nẵng trong quan hệ với các nước phương Tây và công cuộc bố phòng của nhà Nguyễn.

     Từ cuối thế kỉ XVI, tàu thuyền của các nước phương Tây ( Tây Ban Nha, Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha ) thường qua lại Đà Nẵng. Đến giữa thế kỉ XIX, các nước phương Tây muốn mở rộng phạm vi ảnh hưởng, giành giật thị trường, xâm lược thuộc địa... thì Đà Nẵng trở thành cửa ngõ để xâm nhập và chinh phục Việt Nam. Với những quan hệ trước đây với Nguyễn Ánh, nước Pháp đã có nhiều lợi thế so với các đế quốc khác trong quan hệ với triều Nguyễn.

Tiếp đón phái đoàn của Pháp đến Đà Nẵng (1825) ( Nguồn : Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng ( 1306 - 1975 ) NXB Nam Việt 2007, tr.156 )
Đồn Hai trong hệ thống đồn lũy ở ven biển Đà Nẵng (1845) ( Nguồn : baodanang.vn )
     Trong những thập kỉ đầu thế kỉ XIX, nhiều thương thuyền của Pháp ( thường là có những chiến hạm hộ tống ) đến Đà Nẵng để xin giao thương, thực chất là tìm cách thực hiện các nội dung đã được thỏa thuận với Nguyễn Ánh ( nhượng quyền sở hữu cho Pháp cảng Đà Nẵng... ). Nhưng tất cả cố gắng đó đều bị nhà Nguyễn cự tuyệt. Từ đó, thực dân Pháp xúc tiến âm mưu xâm lược Việt Nam bằng vũ lực.

     Về phía nhà Nguyễn, đứng trước những hành động khiêu khích của tư bản Pháp, triều đình càng nhận thức rõ vị trí quan trọng của Đà Nẵng trước âm mưu xâm lược của phương Tây. Triều đình đã tăng cường hệ thống phòng thủ, xây thành lũy, tăng thêm quân, trang bị thêm súng thần công, trang bị cho tàu thuyền các kính thiên lí của châu Âu, tuần phòng nghiêm ngặt. Năm 1840, Minh Mạng đã yêu cầu Tổng đốc Nam - Ngãi Nguyễn Tri Phương : "Đà Nẵng là nơi xung yếu ở biển, tàu Tây dương lui tới ắt phải qua đấy... Nay ngươi có chức trách giữ một địa phương nên thân đến xem hai thành An Hải và Điện Hải và pháo đài Phong Hải, gia tâm chỉnh lí"

Lược đồ hệ thống phòng thủ Đà Nẵng ( Nguồn : Lưu Anh Rô, Đà Nẵng buổi đầu đánh Pháp ( 1858 - 1860 ), NXB Đà Nẵng, 2005 )
              HỆ THỐNG PHÒNG THỦ CỬA BIỂN ĐÀ NẴNG

Đến trước cuộc tấn công xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ ra, hệ thống phòng thủ Đà Nẵng đã được nhà Nguyễn bố trí như sau:
- Bên hữu ngạn sông Hàn, về tận phía Bắc bán đảo Tiên Sa, trên đỉnh núi Sơn Trà có đồn Trấn Dương ; dưới chân núi về phía Tây, dải đất núi khá bằng phẳng nhô ra vùng vịnh ở mũi Mỏ Diều cố pháo đài Phòng Hải ; hơi chếch về phía Bắc ở đây còn có bảo thứ nhất, kế tiếp về phía Nam có bảo thứ hai, thứ ba, thứ tư ( các bảo thứ năm, sáu và bảy năm 1850 bị triệt bỏ ). Và phía Nam là thành An Hải, kế cận thành còn hệ thống đồn của các làng xã An Hải, Mỹ Thị, Hóa Khê, Phước Trường,...

- Bên tả ngạn sông Hàn, từ đỉnh Hải Vân có Hải Vân quan, tiến về phía Đông Nam gần chân đèo có đồn Chân Sảng, pháo đài Định Hải ; xuống dưới chân đèo có tấn Câu Đê và dọc đường thiên lí có Thất trạm. Trung tâm thành phố cảng Đà Nẵng có thành Điện Hải đối diện thành An Hải, sau lưng thành Điện Hải là các đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, Nại Hiên, Cẩm Lệ,... như là hệ thống các vệ tinh của thành Điện Hải.

- Giữa hai bờ tả hữu là lòng sông Hàn, một hệ thống tàu thuyền lớn nhỏ được trang bị đầy đủ trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, neo đậu theo từng điểm từ cửa tấn Đà Nẵng đến hệ thống các đài đồn dọc theo hai bên bờ tả, hữu sông Hàn.

     Năm 1847, tàu chiến của Pháp nổ súng gây thiệt hại lớn cho thủy quân của nhà Nguyễn tại Đà Nẵng.

     Năm 1856, quân Pháp bắn phá các đồn lũy ở Sơn Trà và đưa quân đổ bộ vào các hải đài, phá phách đồn lũy...

2. Quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn (1802-1884)

     Sau khi lên ngôi, dù bận rất nhiều việc nội trị, nhưng chỉ một năm sau, vào năm Gia Long thứ hai (1803), vua Gia Long đã cho tái lập Đội Hoàng Sa : "Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biện Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa". Đến tháng Giêng năm Ất Hợi (1815), vua Gia Long quyết định " sai Đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ánh ra Hoàng Sa thăm dò đường biển"

     Từ năm 1816. vua Gia Long bắt đầu cử thủy quân cùng với Đội Hoàng Sa ( không còn chỉ giao phó hoàn toàn cho Đội Hoàng Sa) kiểm soát, đo đạc thủy trình ở quần đảo Hoàng Sa : "Năm Bính Tí, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816), vua Gia Long ra lệnh cho thủy quân và Đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét và đo đạc thủy trình"

Hoạt động đầu tiên của lực lượng thủy quân này đã đánh dấu mốc rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Việc này đã khiến cho những người phương Tây, như Chaigneau hay Giám mục Taberd, khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa : "Pracel hoặc Paracels ( Cồn Vàng ). Tuy rằng cái quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn lợi, vua Gia Long đã nghĩ tăng lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới, long trọng cắm cờ và chính thức giữ chủ quyền các hòn đá này, mà hình như không một ai tranh giành với ông". Thực ra, sự kiện năm 1816 chỉ là mốc thời gian vua Gia Long sử dụng thủy quân, thay vì chỉ có Đội Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình, khai thác sản vật như trước.

     Kể từ đó, nhất là từ thời Minh Mạng, thủy quân liên tục hằng năm thành lệ, đều đặng ra quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khảo sát, đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ. Việc đo đạc, vẽ bản đồ của nhà nước, theo pháp lí quốc tế cũng là những bằng chứng cụ thể về việc xác lập thực thi chủ quyền của nhà nước, về việc chiếm hữu thật sự tại các hải đảo. 

Nhiệm vụ đo đạc, vẽ bản đồ ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được quy định rất rõ ràng : "Không cứ đảo nào, cửa biển nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngắm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, từ cửa biển nào ra biển, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường ? lại ở chốn ấy trông vào bờ biển đối thẳng là tỉnh hạt nào ? và phương hướng nào ? ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường ? Ghi, nói minh bạch trong họa đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm". Việc đo đạc vẽ bản đồ ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng đã có những kết quả cụ thể. Tấm bản đồ tiêu biểu còn lại đến ngày nay là Đại Nam nhất thống toàn đồ.
Đại Nam nhất thống toàn đồ do vua Minh Mạng cho vẽ vào năm 1838, có thể hiện hai địa danh Hoàng Sa và Vạn Lí Trường Sa bằng Chữ Hán
An Nam đại quốc hoạ đồ do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, chú dẫn bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Latinh có ghi dòng chữ Paracel seu Cát Vàng (Paracel hoặc là Cát Vàng). Giám mục Jean Louis Taberd là tác giả bài nghiên cứu in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal xuất bản tại Calcuta (Ấn Độ) năm 1837. Trong bài viết này ông đã khẳng định : “Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa – Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina (tức Đàng Trong)”. ( Nguồn : biengioilanhtho.gov.vn )
     Bên cạnh đó, thủy quần còn được triều đình giao nhiệm vụ cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, lập miếu thờ và trồng cay.

Sách Đại Nam thực lục cho biết : "Năm Quý Tị, Minh Mạng thứ 14 (1833) mùa thu, tháng tám vua dụ Bộ Công rằng : Trong hải phận Quảng Ngãi có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường [ mắc cạn ] bị hại. Nay nên dự bị thuyền này, đến sang năm sẽ có người đên đó dựng miếu, lập bia và trồng cây cối. Ngày sau cây to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết, tránh khỏi được mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời"

Vào năm Ất Mùi (1835), nhà vua cho dựng miếu thờ, xây bình phong và lập bia chủ quyền. Chính sử triều Nguyễn đã xác nhận sự kiện quan trọng này như sau : " Bãi Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có bia khắc bốn chứ " Vạn lí ba bình" ( muôn dặm sống yên ), chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ Đông Tây Nam đều là đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía Bắc giáp với một hòn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 430 trượng, cao 1 trượng 3 thước ngang với cồn cát ( gọi là Bàn Than Thạch ) . Năm ngoái vua toan dựng miếu, lập bia ở chỗ ấy bỗng vì sao không làm được. Đến đây mới sai Cai đội thủy quần là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ giảm thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến đấy dựng miếu ( cách tòa miếu cổ 7 trượng ). Bên tả miếu dựng bia đá, phía trước xây cái bình phong. Mười lăm ngày làm xong rồi về".

Ngoài bia đá được dựng lên cùng miếu thờ để khẳng định chủ quyền theo thông lệ của nhà nước, triều đình Huế còn cho cắm cột mốc bằng gỗ để xác định chủ quyền : "Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ ( cột mốc ) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Mỗi năm, cột mốc đều khác rõ niên hiệu, năm, chức vụ, họ tên viên chỉ huy lực lượng thủy quân được phụng mệnh triều đình ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đánh dấu để ghi nhớ.

     Các chuyến đi tới quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đều được tổ chức, chuẩn bị kĩ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có vệ thủy quân là chính, phối hợp với vệ giám thành, tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Chế độ lương bổng, cấp phát, thưởng phạt đối với quan chức, binh lính và dân binh thực hiện nhiệm vụ tại Hoàng Sa cũng rất nghiêm túc.

Thường dân binh đội Hoàng Sa, Quãng Ngãi, Bình Định luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế về sự cực khổ vất vả theo đoàn, Còn các viên chỉ huy như Cai đội, Chánh Suất đội, các viên chức tỉnh phái mà chậm trễ đều bị tội. Như, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Cai đội Phạm Văn Nguyên đi quần đảo Hoàng Sa về chậm trễ, đã có chỉ cho Bộ Công trị tội và bị phạt 80 trượng, xong cho phục chức Cai đội. Các viên Giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến (Tiệm), Nguyễn Văn Hoằng vẽ họa đồ Hoàng Sa chưa chu tất cũng bị phạt mỗi người 80 trượng. Tuy nhiên, cùng đi chuyến này, những người trong dội Hoàng Sa như Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sênh (Sanh) hướng dẫn, đo hải trình vất vả, được thưởng mỗi người 1 quan tiền Phi Long, dân phu hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo cũng được thưởng mỗi người 1 quan tiền. Tương tự, năm Minh Mạng thứ 18 (1837), những người được triều đình phái đi như Suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phải đi hướng dẫn như Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sênh do khởi hành chậm trễ, lần này đều bị phạt. Trong khi đó, các dân binh hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi theo vẫn được thưởng 2 quan tiền.
Tờ lệnh ban hành ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (Giáp Ngọ – 1834) lệnh Bộ Binh và triều đình cử binh thuyền đi Hoàng Sa mà gia tộc họ Đặng ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) gìn giữ hàng trăm năm nay - Ảnh : Hiển Cừ ( Nguồn : thanhnien.com.vn )
     Về quản lí hành chính, các tài liệu chính thức của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Châu bản triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí đều ghi nhận rõ ràng rằng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về cương vực của Việt Nam.

Chẳng hạn, tháng 8 năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng có du cho Bộ Công : "Dải Hoàng Sa trong vùng biển của Quảng Ngãi" ; năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng 17 (1836), Bộ Công tâu lên vua : "Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta là rất hiểm yếu" ; Ngày 20 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), phúc tâu của Bộ Công cũng đã khẳng định : "Hằng năm, vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà" ; Đại Nam nhất thống chí cũng chép : "Phía Đông ( tỉnh Quảng Ngãi ) chạy ngang đến đảo cát : đảo Hoàng Sa, liền với biển xanh"...

     Các tài liệu của triều Nguyễn đều xác nhận Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Quảng Ngãi là đơn bị hành chính luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có tính định kì hằng năm của đội dân binh Hoàng Sa, nhằm có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương.

     Như vậy, việc thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa đã được nhà Nguyễn tổ chức chặt chẽ và thường xuyên hơn trước, dưới nhiều hình thức và biện pháp khác nhau.

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2016

BÀI 4: ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ , CỨU NƯỚC ( 1954 - 1975 ) VÀ THỜI KÌ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TỪ NĂM 1975 ( Phần 3 , 4 )

3. Đà Nẵng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975


Vào cuối năm 1974, tình hình chiến trường miền Nam đã thay đổi, những thắng lợi mà chúng ta giành được đã phản ảnh thế và lực của ta đã mạnh hơn hẳn địch. Đây là nhân tố chủ yếu đưa đến việc khẳng định thời cơ thuận lợi để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Khi mặt trận Tây Nguyên nổ súng tiến công địch thì Trị Thiên và Khu 5 được xác định là hướng chiến lược phối hợp quan trọng : rừng núi, đồng bằng và đô thị, có hai thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng.

Giữa lúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta đang giành được nhiều thắng lợi ở Tây Nguyên, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị và Quân uy Trung ương chỉ thị cho Khu 5 đẩy mạnh tiến công và nổi dậy với tinh thần khẩn trương và mạnh bạo, nhanh chóng cắt đứt Quốc lộ 1, đoạn giữa Đà Nẵng và Tam Kì, tiêu diệt Sư đoàn 2 của quân đội Sài Gòn, không cho chúng co cụm về Đà Nẵng và chuẩn bị tích cực, khẩn trương cho cuộc tiến công Đà Nẵng.

Trong khi Đảng bộ và nhân dân Quảng Đà đang xúc tiến việc chuẩn bị đón thời cơ tổng tiến công thì ngày 24-3 Tam Kì được giải phóng ; ngày 25-3 ta chiếm thị xã Quảng Ngãi và ngày 25-3 thành phố Huế cũng được giải phóng. Đà Nẵng đã bị cô lập hoàn toàn. Các lực lượng bộ đội chủ lực từ ba phía Bắc, Tây và Nam được lệnh chuẩn bị tiến về Đà Nẵng.

Ngày 26-3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Mặt trận Quảng Đà ( mật danh 475 ) do Trung tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh và Thượng tướng Chu Huy Mân - Tư lệnh Quân khu 5 - làm Chính ủy để trực tiếp lãnh đạo chỉ huy Quân đoàn 2 và quân dân Khu 5 đánh chiếm Đà Nẵng.

Tối ngày 27-3, Võ Chí Công cùng các lãnh đạo trong Khu ủy Khu 5 đã làm việc với Đặc khu ủy Quảng Đà, trao đổi cụ thể về phương án giải phóng thành phố, khẳng định phải giải phóng Đà Nẵng bằng hai lực lượng tiến công quân sự và nổi dậy quần chúng, chậm nhất là ngày 3-4-1975 phải hoàn thành giải phóng thành phố.

5 giờ sáng ngày 28-3-1975, pháo binh ta nổ súng bắn vào Bà Rén, Vĩnh Điện, Hòn Bằng và đến 8 giờ bắn khống chế sân bay và hải cảng, mở đầu cho chiến dịch giải phóng Đà Nẵng. Các lực lượng bộ binh và thiết giáp bắt đầu tiến công các huyện thị vùng ven thành phố.

Sáng ngày 29-3, được sự đồng ý của Võ Chí Công và Chu Huy Mân, Thường vụ Đặc khu ủy và Ban chỉ đạo tiền phương Quảng Đà quyết định tổng khởi nghĩa và tiến công ngày trong ngày này, sớm một ngày so với dự kiến ban đầu, dùng lực lượng địa phương và quần chúng nổi dậy khởi nghĩa để phối hợp với quân chủ lực từ bên ngoài đánh vào giải phóng thành phố.

Các lực lượng bộ đội chủ lực được lệnh bỏ qua các mục tiêu bên ngoài, bằng mọi cách cơ động, tiến nhanh vào thành phố. Bên trong, Trung đoàn 96 bộ đội đặc công cùng Tiểu đoàn 491, lực lượng biệt động Lê Độ tiến vào chiếm lĩnh Tòa Thị chính, quân vụ thị trấn, đài phát thanh. Ở phía Đông, Tiểu đoàn 97 tiến đánh căn cứ Nước Mặn, Quận III Đà Nẵng, cắt đứt đường rút quân của địch ra cảng Sơn Trà.

Tòa Thị chính Đà Nẵng ngày 29 - 03 - 1975 ( Nguồn : baodanang.vn )
Trong thành phố, rạng sáng 29-3-1975, Ủy ban khởi nghĩa của các quận, khu phố, khóm và các đơn vị phát động quần chúng xuống đường chiếm lĩnh các mục tiêu đã được phân công, làm chủ thành phố.

Phối hợp với lực lượng nổi dậy của quần chúng, đến chiều 29-3, bộ đội chủ lực đã vượt qua cầu Trình Minh Thế ( nay là cầu Trần Thị Lý ), tiến vào chiếm lĩnh căn cứ Sơn Trà.

Mít tinh mừng thành phố được giải phóng ( Nguồn : baodanang.vn )
Quân chủ lực từ các ngả tiến về Đà Nẵng không gặp sự kháng cự nào đáng kể. Một bộ phận bộ đội được các xe tải từ thành phố chạy ra đón vào. Đến 15 giờ chiều 29-3, tiếng súng cơ bản chấm dứt. Cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Tòa Thị Chính, báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của căn cứ quân sự lớn nhất miền Trung.

Chiến thắng của quân và dân ta trong chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng đã góp phần to lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho Chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngay sau khi giải phóng, ngày 30-3-1975, Thường vụ Đặc khu ủy đã họp bàn những công việc cụ thể của thành phố. Ủy ban quân quản của thành phố và các cấp được thành lập. Chính quyên cách mạng có nhiệm vụ ổn định trật tự, an ninh, giải quyết công ăn việc làm, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng chính quyền cách mạng, phục vụ giải phóng Sài Gòn và các phần đất còn lại ở miền Nam

4. Đà Nẵng từ năm 1975 đến nay

Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng bắt tay vào khắc phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh. Mặc dù còn lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt được nhiều thành quả, nhất là thời kì đổi mới, sau 1986.

Từ năm 1997, khi trở thành thành phố trực thuộc trung ương, Đà Nẵng đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng " dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp ". Bước đầu định hình được một số ngành, sản phẩm có gia tăng và hàm lượng công nghệ cao. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được cải thiện, môi trường đầu tư thông thoáng. Hoạt động đối ngoại mở rộng, vị thế thành phố ngày càng nâng cao. Huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển tăng cao hơn trước. Kết cấu hạ tầng king tế - xã hội và đô thị được tập trung đầu tư.

Mục tiêu tổng quát xây dựng Đà Nẵng trong thời kì mới là " Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế, xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ ; là thành phố cảng biển. đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế ; trung tâm bưu chính viễn thông và tài chính, ngân hàng ; một trong những trung tâm văn hóa, thể thao, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ của miền Trung ; là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng an ninh của khu vực miền Trung và cả nước ".

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

BÀI 3 : ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP ( 1919 - 1954 ) Phần 3 , 4

3 . Đà Nẵng trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp ( từ tháng 12-1946 đến tháng 1-1947 )

     Đêm 19-12-1946, Ủy ban quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng nhận được lệnh nổ súng tiến công giặc. Lập tức, một hội nghị liên tịch đặc biệt được triệu tập. Hội nghị quyết định đúng 2 giờ sáng ngày 20-12-1946, Đà Nẵng sẽ nổ súng, trọng điểm là đánh chiếm sân bay ; và tiếng súng ở đây cũng là hiệu lệnh cho các nơi khác đồng loạt tiến công địch, chiếm giữ những nơi trọng yếu, không cho quân giặc ứng cứu nhau.

Quân Pháp trở lại Đà Nẵng năm 1946 ( Nguồn : ktsdanang.com )
Thế trận bố phòng của ta đã được sắp xếp xong. Trung đoàn 96 ém sát các vị trí đóng quân của địch, tạo thành một vòng cánh cung từ trụ sở ủy ban hành chính, nhà bưu điện, Ngã Năm, Cổ Viện Chàm đến khu vực chợ Mới ; Tiểu đoàn 18 chiếm lĩnh khu vực Cầu Vồng, nhà ga, Ngã Ba Cai Lang ; Tiểu đoàn 17 phong tỏa cụm quân địch ở sân bay ; Tiểu đoàn 19 trấn giữ khu vực Nghi An, đèo Hải Vân. Trung đoàn bộ đóng tại ngã tư Yên Khê. Cứ mỗi đại đội chủ lực có một đại đội tự vệ thành phố hoặc dân quân du kích Hòa Vang làm nhiệm vụ phối thuộc chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

     Các đơn vị vũ trang đã vào vị trí, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng đợi mãi tới sáng mà vẫn chưa thấy súng nổ ở phía sân bay. Những lực lượng bí mật ém sát các vị trí đồn bốt giặc đành phải rút ra ngoài. Mãi đến sáng ngày 20-12, khi nghe tiếng pháo và tiếng súng của ta và địch đánh nhau ở Cầu Vồng, đội tự vệ chiến đấu của nhà máy điện liền cho nổ bom phá hoại nhà máy. Lực lượng ở vòng ngoài cho nổ mìn phá sập các cầu Cẩm Lệ, Phong Lệ , Thủy Tú. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Đà Nẵng thực sự bùng nổ vào hồi 8 giờ sáng ngày 20-12-1946.

     Tuy kế hoạch đồng loạt nổ súng tiến công giặc không thực hiện được nhưng các đơn vị đã được phân công vẫn bám sát vị trí chiến đấu của mình. Nhiều trận kịch chiến nổ ra ở khu vực ủy ban hành chính thành phố, nhà bưu điện, nhà thông tin tuyên truyền, khu vực Ngã Năm.

     Cổ Viện Chàm là nơi quyết chiến của ta. Các chiến sĩ anh dũng chiến đấu suốt ngày đêm, kiên quyết không cho địch tiến vào giải vây sân bay. Các máy bay của quân Pháp không thể cất cánh được. Tiểu đoàn 17 rãi quân từ Cổ Viện Chàm đến bến Đò Xu, chùa Tứ Bang.

     Tại khu vực nhà ga, quân địch bị ta chặn đánh dữ dội ngay từ Cầu Vồng ; chúng phải sử dụng một lực lượng lớn, liều chết xông lên, mãi sau chúng mới tiến sát được nhà ga. Cuộc chiến đấu trở nên quyết liệt. Chiến sĩ ta mưu trí đốt khói mù trời rồi xung phong đánh giáp lá cà, đập chai cháy rồi nổ súng làm giả đại liên uy hiếp địch. Có tổ hết đạn, hết cả lựu đạn, xông vào vật lộn với từng tên địch.

     Cuộc chiến đấu trong ngày đầu kháng chiến thật là một bức tranh hào hùng muôn hình muôn vẻ. Tự vệ sát cánh cùng bộ đội chiến đấu, tải đạn, tiếp thương, tiếp tế cơm nước. Một lò bánh mì được đắp ngay sau hỏa tuyến để làm bánh mì cung cấp cho chiến sĩ. Đồng bào thì mang cá tươi, cá chiến thính, rồi mắm, muối để quân ta tăng sức chiến đấu.

     Sáng ngày thứ hai, kẻ thù dùng pháo hạm bắn phá dữ dội để chặn đường tiếp tế và uy hiếp tinh thần quân dân ta. Ở những vị trí chiến đấu giằng co ngày hôm trước, địch tiếp tục những cuộc tiến công. Tại hai điểm kịch chiến ở nhà ga và chợ Mới, chiến trận diễn ra ác liệt. Tại Cổ Viện Chàm, hai chiến sĩ ta đánh tới viên đạn, quả lựu đạn cuối cùng. Đến cuối ngày, quân địch chiếm được nhiều nơi quan trọng trong thành phố như khu chợ Mới, nhà ga, chợ Cồn.

Đà Nẵng trong ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp (20 – 12 – 1946) ( Nguồn : Bảo tàng Khu 5 )

     Ngày 22-12-1946, ngày thứ ba của cuộc kháng chiến, địch tập trung lực lượng đánh mạnh phía sân bay, quyết giải vậy cho đồng bọn cố thủ ở đây. Tiểu đoàn 17, Tiểu đoàn 19, các đơn vị của Trung đoàn 93 tăng cường và tự vệ chiến đấu của Đà Nẵng, Hòa Vang cùng phối hợp đánh địch liên tục trên suốt tuyến chiến đấu từ chợ Mới đến sân bay. Nhưng với số lượng đông, hỏa lực mạnh, địch đã chọc thủng được trận địa ta và liên lạc được với đồng bọn ở sân bay. Ở phía Tây và phía Bắc sân bay, quân địch cũng dần dần phá được thế bị bao vây

     Cả thành phố trở thành một trận tuyến, cả thành phố chung một ý chí. Nam học sinh thì xung phong gia nhập vệ quốc quân, tham gia vào tự vệ chiến đấu. Nữ học sinh thì xung phong vào đội cứu thương, tiếp tế, chăm sóc thương binh. Những đồng bào không thể trực tiếp tham gia chiến đầu thì thực hiện triệt để tản cư, triệt để bất hợp tác với giặc, triệt để " tiêu thổ kháng chiến ". Những vật dụng, tài sản riêng lúc này cũng vứt ra mặt đường làm công sự chiến đấu, thành những chướng ngại vật ngăn bước tiến công của quân thù.

     Như vậy, sau ba ngày diễn ra chiến sự ác liệt, địch mới chiếm được nội thành, nhưng suốt một tháng ròng rã chúng bị giam chân trong thành phố, không sao vượt qua sông Cẩm Lệ mà tiến về phí Nam được. Quân dân Đà Nẵng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra từ buổi đầu trước khi bước vào cuộc kháng chiến, đã bảo toàn được lược lượng, đã tạo điều kiện cho nhân dân toàn tỉnh có thời gian chuyển vào tình thế chiến tranh. Đánh giá thắng lợi của một tháng kháng chiến đầu tiên ở Đà Nẵng, ông Phạm Văn Đồng, đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ đã biểu dương : " So sánh với toàn quốc, mặt trận Đà Nẵng được liệt vào hạng đánh mạnh nhất và dẻo dai nhất ". Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, ông còn tặng Trung đoàn 96 lá cờ thêu hai chữ " Giữ vững ".

Cờ “Giữ vững” của Chính phủ tặng Trung đoàn 96 về thành tích chiến đấu trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến ( Nguồn : Bảo tàng Đà Nẵng )

4. Quần đảo Hoàng Sa từ năm 1884 đến năm 1954

     Theo Hiệp ước Patenôtre năm 1884, với tư cách đại diện cho Việt Nam về đối ngoại, chính quyền thuộc địa Pháp đã có những hành động để củng cổ, khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

     Năm 1899, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị Chính phủ Pháp xây dựng ngọn hải đăng tại Hoàng Sa. Tuy nhiên, việc này chưa thực hiện được vì thiếu kinh phí. Tiếp đó là hàng loạt cuộc khảo sát, nghiên cứu về hải dương học và địa chất được thực hiện ở quần đảo này.

     Ngày 8-3-1925, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố khẳng định chủ quyền của Pháp trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Người Pháp bắt đầu nghiên cứu sâu về quá trình xác lập chủ quyền của " Vương quốc An Nam " tại quần đảo Hoàng Sa.

Qua kết quả nghiên cứu tìm hiểu về Hoàng Sa, Khâm sứ Trung Kì LeFol trong thư ngày 22-1-1929 gửi Toàn quyền Đông Dương cho biết: " Trong tác phẩm Géographie de la Cochinchine ( được dịch ra tiếng Anh và đăng trong tạp chí Journal de la Socitélé Asiatique de Bengale năm 1838 ), đức cha Jean Louis Taberd, giám mục Ismaropolis ( Khâm Mạng tòa thánh tại Nam Kì, Cao Miên và Champa ) đã kể lại việc Hoàng đế Gia Long đã chiếm hữu quần đảo Paracels năm 1816 và long trọng kéo là cờ Nam Kì trên quần đảo. Việc chiếm hữu đó đã được các biên niên sử của chính quyền An Nam hay Đại Nam nhất thống chí, Nam Việt địa dư tập 2 hay Địa dư nước An Nam, xuất bản năm thứ 14 đời Minh Mạng và cuối cùng Đại Nam nhất thống chí quyển 6 hay Địa dư Duy Tân ; các tài liệu trong kho lưu trữ của chính phủ An Nam cung cấp cho ta những chi tiết về hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải đặt dưới quyền chỉ huy của Đội Hoàng Sa ".

Và cũng chính trong bức thử kể trên, ông LeFol đã cho biết trước khi mất, ông Thân Trọng Huề, Thượng thư Bộ Binh của triều đình Huế đã viết một văn thư ngày 3-3-1925 khẳng định rằng : " Các đảo nhỏ đó bao giờ cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh cãi trong vấn đề này". ( UBND huyện Hoàng Sa, Kỷ yếu Hoàng Sa, NXB Thông tin và Truyền Thông, 2012, tr.39,30 )
Cột hải đăng trên đảo Hoàng Sa (1939) ( Nguồn : hoangsa.daanang.gov.vn )

Nghi lễ chào cờ của đơn vị lính Bảo an người Việt được cử ra trấn đóng tại đảo Hoàng Sa (1938) ( Nguồn : hoangsa.danang.gov.vn )

     Ngày 15-6-1932, Toàn quyền Đông dương kí nghị định về việc thiết lập một đại lí ở quần đảo Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên. Để hoàn chỉnh và thống nhất về quản lí hành chính, ngày 29-2 năm Bảo Đại thứ 13 ( ngày 30-3-1938 ), Hoàng Sa đế Bảo Đại kí Dụ số 10 sáp nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên.

Chỉ dụ số 10 (ngày 29 – 2 – 1938) của vua Bảo Đại sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên ( Nguồn : danangtourism.gov.vn )



























     Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phát xít Nhật chiếm đóng và khai thác cả hai quần đảo, tuyên bố sáp nhập các quần đảo trong Biển Đông vào các vùng lãnh thổ của Nhật. Hành động này của Nhật đã bị Chính phủ Pháp gửi công hàm phản đối và bảo lưu các quyền của Pháp tại Hoàng Sa và Trường Sa. Sau chiến tranh, do bại trận, Nhật Bản phải từ bỏ tham vọng đó.

     Tháng 9 - 1951, tại Hội nghị San Francisco ( Mĩ ) về việc kí kết Hòa ước với Nhật, ý kiến Nhật thừa nhận chủ quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa ở phía Nam đã bị hội nghị bác bỏ với 48 pheesi chống và 3 phiếu thuận. Cũng tại hội nghị này, thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Bảo Đạo là Trần Văn Hữu long trọng tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Không một đại biểu nào trong Hội nghị có ý kiến gì về Tuyên Bố này.

     Ba năm sau Hội nghị San Francisco 1951, Hội nghị Genève 1954 với sự tham dự của 9 quốc gia, gồm 5 cường quốc là Hoa Kì, Anh, Pháp, Liên Xô và Trung Quốc đã xác nhận chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tại Hiệp định Genève kí ngày 21-7-1954.

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

BÀI 4: ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ , CỨU NƯỚC ( 1954 - 1975 ) VÀ THỜI KÌ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TỪ NĂM 1975 ( Phần 1 , 2 )

1. Phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève, đòi quyền dân sinh, dân chủ (1954-1956)

     Sau khi Hiệp định Genève về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được kí kết, Thành ủy Đà Nẵng chủ trương tập hợp lực lượng quần chúng nhằm biểu dương sức mạnh, đồng thời chào đón hòa bình, tiệp tục vận động binh linh trong hàng ngũ địch trở về nhà làm ăn.

     Sáng ngày 1 - 8 - 1954, đông đảo quần chúng nhân dân, phần lớn là các mẹ, các chị từ các khu vực ở nội, ngoại thành rầm rập đổ ra đường và kéo đến đồn Võ Tánh, căn cứ tiếp liệu của quân Pháp và là nơi tập trung một số thanh niên mới bị động viên vào lính. Đoàn biểu tình của quần chúng được sự hỗ trợ của công nhân khuân vác và chị em tiểu thương ở các chợ.

Các mẹ, các chị đòi được gặp chồng con, anh em mình và đoàn tụ gia đình. Quần chúng xông vào đồn địch. Các chị Phùng Thị Tương và Đặng Thị Trợ cùng nhiều bà con khác kéo đến trước cột cờ và kéo cờ đỏ sao vàng lên. Địch xả súng bắn vào đoàn biểu tình, chị Phùng Thị Tương hi sinh tại chỗ, chị Đặng Thị Trợ bị thương nặng và hi sinh ngày 3 - 8 - 1954

     Từ sau cuộc đấu tranh tháng 8 - 1954, phong trào đấu tranh của nhân dân Đà Nẵng tập trung vào việc đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Genève, tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh sau đây :

      - Ngày 1 - 5 - 1955, nhân dân Đà Nẵng họp mít tinh đòi cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ, đòi Ngô Đình Diệm phải hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất nước nhà.

      - Ngày 20 - 7 - 1955, nhân dân nội, ngoại thành Đà Nẵng tổ chức tọa đàm về tổng tuyển cử dưới hình thức sinh hoạt các hội hợp pháp như cúng tế, hội làng, giỗ tổ, hội họp gia đình, thôn xóm.

      - Ngày 21 - 8 - 1955, nổ ra cuộc đình công, bãi thị hầu khắp thành phố đòi hiệp thương, tổng tuyển cử, đòi chấm dứt khủng bố tra tấn dưới danh nghĩa " tố cộng", đìu giải quyết nạn thất nghiệp, chống giảm lương, không thải thợ, không tăng thuế.

      - Ngày 23 - 11 - 1955, toàn thể công nhân Công ti Thủy điện SIFA đã đình công đưa yêu sách đòi chủ công ti phải tăng lương, cải thiện đời sống và thi hành luật lao động. Báo Sài Gòn mới ngày 26 - 11 - 1955 cho biết: " Tất cả đô thị Đà Nẵng không có điện ".

      - Tháng 10 và 11 - 1955, xảy ra lụt lội , mất mùa, giá gạo tăng gấp đôi. Hàng nghìn người đã kéo đến Tòa Thị chính Đà Nẵng đòi hạ giá gạo, đòi tiếp tế và cứu trợ những gia đình bị thiên tai, nghèo khó.

    Nhìn chung, phong trào đấu tranh chính trị trong những năm đầu sau khi Hiệp định Genève được kí kết ( 1954 - 1956 ) tập chung chủ yếu vào nội dung đòi chính quyền Ngô Đình Diệm phải thi hành hiệp định, hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, đòi quyền dân sinh, dân chủ và chống các trò hề lừa bịp của địch. Phong trào bước đầu đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động thành phố, hướng quần chúng vào mục tiêu chống Mĩ - Diệm. Qua các cuộc đấu tranh , Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng đã dần dần rút được những kinh nghiệm đấu tranh chính trị, kinh nghiệm vận động, tổ chức quần chúng đấu tranh công khai, hợp pháp.

2. Phong trào đấu tranh chính chị của học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân (1963 - 1974)

     Cùng với cuộc đấu tranh trên mặt trận quân sự, chống phá ấp chiến lược, cuộc đấu tranh ở đô thị lớn của miền Nam đã thu hút quá đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

     Năm 1963, diễn ra cuộc đấu tranh của đồng bào Phật tử và toàn thể nhân dân thành phố Đà Nẵng chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Trong thời gian này, lực lượng thanh niên giải phóng có nhiều cơ sở trong các trường học, phát hành trong quần chúng các tờ báo in rônêô, truyền tay lời hiệu triệu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Quảng Đà. Hàng nghìn học sinh sôi nổi xuống đường đấu tranh với các khẩu hiệu đả đảo đế quốc Mĩ và tay sai.

     Tháng 8 - 1864, " Lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên Đà Nẵng" được thành lập, đã tổ chức và huy động hầu hết các tầng lớp nhân dân thành phố tham gia đình công, bãi thị, bãi khóa... đòi tự do, dân chủ công bằng xã hội, phản đối " Hiến chương Vũng Tàu". Thị trưởng Đà Nẵng bỏ trốn, quần chúng chiếm Tòa Thị chính và làm chủ thành phố suốt một tuần lễ.

    Tháng 1 - 1965, lần đầu tiên cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng được giương cao trong cuộc đấu tranh của hàng chục ngàn học sinh, sinh viên, thanh niên, quần chúng lao động xuống đường biểu tình đòi đế quốc Mĩ rút về nước.

    Từ tháng 3 đến tháng 5 - 1966, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền địch ( giữa tướng Tư lệnh Vùng I chiến thuật, đại biểu bắc Trung nguyên Trung phần với chính quyền Trung ương Sài Gòn), Thành ủy Đà Nẵng chủ trương đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở đô thị. Học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân Đà Nẵng có sự phối hợp với lực lượng sinh viên quyết tử Huế đấu tranh làm chủ thành phố trong 76 ngày đêm.

Nghiệp đoàn xe lam Đà Nẵng đình công cùng đồng bào đấu tranh làm chủ Đà Nẵng 76 ngày đêm ( 1966 ) ( Nguồn : danang.gov.vn )
      Tháng 9 - 1967, chính quyền Sài Gòn tổ chức cuộc bầu cử Tổng thống và Thượng Nghị viện, " Lực lượng thanh niên, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ " kêu gọi nhân dân tẩy chay cuộc bầu cử và cùng với hàng ngàn quần chúng nhân dân xuống đường lên án cuộc bầu cử gian lận, không thừa nhận kết quả bầu cử...

     Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân ( 1968 ), theo kế hoạch đã định, quần chúng nhân dân đã sẵn sàng phối hợp với lực lượng vũ trang làm chủ thành phố. Nhưng lực lượng vũ trang đã không làm được nhiệm vụ hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. Các mũi tiến công đều không vào được thành phố, nhân dân vùng ven kéo vào nội thành bị địch chặn lại. Cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân trong thành phố bị địch đàn áp.

     Năm 1971, phong trào đấu tranh ở đô thị Đà Nẵng có bước phát triển mới. Nổi bật nhất là sự ra đời của Ban Chấp hành Tổng đoàn học sinh Đà Nẵng, tổ chức công khai bán hợp pháp của thanh niên học sinh. Từ đây, Tổng đoàn đã trở thành ngòi pháo của các cuộc đấu tranh chính trị trong thành phố.

     Tháng 10 - 1971, hàng ngàn học sinh các trường trung học và quần chúng nhân dân xuống đường đấu tranh chống lại cuộc bầu cử Tổng thống chỉ có một liên danh duy nhất, giương cao các khẩu hiệu " đả đảo đế quốc Mĩ ", " đả đảo trò hề độc diễn "... Trong khi đó, đội hành động của Tổng đoàn học sinh Đà Nẵng tấn công đốt Nhà Thông tin - Trung tâm bỏ phiếu, đốt thùng phiếu...

     Bước sang năm 1972, khi cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nên khốc liệt, Tổng đoàn học sinh Đà Nẵng quyết định đưa một bộ phận hoạt động công khai hợp pháp, số đông còn lại đi vào hoạt động bí mật chuẩn bị thời cơ. Tại Đà Nẵng, chính quyền Sài Gòn mở chiến dịch truy lùng, bắt bớ, đàn áp các lực lượng quần chúng. Hầu hết anh chị em cốt cán trong Tổng đoàn học sinh Đà Nẵng bị địch bắt và đưa đi khắp các nhà tù miền Nam.

     Tháng 9 - 1974, một số học sinh Đà Nẵng tự rạch bụng , rạch tay của mình trước mặt pháp đình của kẻ địch, phản đối phiền tòa vô nhân đạo của chế độ Sài Gòn,  kêu gọi đồng bào đấu tranh. Sự kiện này đã gây xúc động mạnh mẽ không chỉ đối với công chúng Đà Nẵng mà còn thôi thúc tâm can trách nhiệm của toàn thể đồng bào miền Nam hướng về Tổ quốc.

BÀI 3 : ĐÀ NẴNG TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP ( 1919 - 1954 ) Phần 1 , 2

1 . Đà Nẵng trong bước chuyển lớn của phong trào giải phóng dân tộc ( 1919- 1930 )


Từ sau thắng lợi trong cuộc chiến đấu chặn đứng cuộc tiến công xâm lược của liên quân Pháp và Tây Ban Nha ( 1858 - 1860 ) , triều đình nhà Nguyễn càng thấy được vai trò quan trọng mang tầm chiến lược của Đà Nẵng nên tăng cường lực lượng phòng thủ ở phía nam kinh đô Huế. Vua Hàm Nghi đã tăng cường củng cố sơn phòng Quảng Nam, tích trữ gạo muối, vàng bạc để chuẩn bị cho một kế hoạch chống Pháp lâu dài.

Tháng 7 - 1885, sau sự biến thất thủ kinh đô, hưởng ứng chiếu Cần vương, các " thân hào nhân sĩ ở Quảng Nam kết nhau làm Nghĩa hội " tập hợp lực lượng chiến đấu chống thực dân Pháp. Một trong những chiến thắng quan trọng của Nghĩa hội là trận tấn công vào đội quân xây dựng con đường chiến lược từ Huế qua đèo Hải Vân tới Đà Nẵng.

Năm 1904, ở Nghi An ( Phước Tường ), Thái Phiên đã tổ chức cuộc đấu tranh chống việc cướp đất lập đồn điền của nhân viên một sở buôn của Pháp. Một mặt nhân dân sở tại làm đơn kiện chính quyền thực dân, mặt khác tổ chức cuộc đấu tranh quyết liệt trên thực địa. Vụ tranh chấp kéo dài đến 3 năm và buộc thực dân phải trả lại đất cho dân.

Năm 1916, diễn ra cuộc khởi nghĩa do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo, có sự tham gia của vua Duy Tân với tư cách là người lãnh đạo tối cao. Theo kế hoạch, những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa sẽ vận động hơn một nghìn lính mới tuyển mộ đang tập trung tại Đà Nẵng để chuẩn bị đưa sang tham chiến ở châu Âu tham gia cuộc nổi dậy. Bên cạnh đó, Đà Nẵng là một địa điểm trọng yếu cần phải chiếm giữ để làm cửa ngõ liên hệ với lực lượng của Đức ( đối thủ của Pháp trong chiến tranh thế giới thứ nhất ). Cuộc khởi nghĩa đã bị thất bại, nghĩa quân ở Quảng Nam bị đàn áp ; còn ở Đà Nẵng cũng như nhiều nơi khác, cuộc nổi dậy đã bị dập tắt.
     Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam có nhiều biến chuyển quan trọng. Trên phạm phi cả nược nhiều tổ chức chính trị ra đời.

          Ở Đà Nẵng, dưới hình thức phong trào dùng hàng nội hóa, đọc sách báo chính trị, lập hội ái hữu, hoạt động thể thao..., các lực lượng xã hội cũng bắt đầu được tập hợp.

      Tháng 9 - 1926, một số trí thức yêu nước đã nhất trí sẽ xin phép thành lập một tổ chức lấy tên là Việt Nam Tấn bộ Dân hội ( Party Progressite Annamite ) do Phan Bội Châu làm hội trưởng, đặt trụ sở tại Đà Nẵng nhưng chủ trương nói trên đã bị Toàn quyền Đông Dương bác bỏ.

      Tháng 9 - 1927, chi bộ đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Đà Nẵng được thành lập do Đỗ Quang Nam Bí thư. Một nhóm khác do Nguyễn Tường đứng đầu cũng được thành lập, hướng phát triển vào các thành viên Hội Ái hữu xe và các tầng lớp lao động trong các xí nghiệp và công sở.

Nhà số 52 Trần Bình Trọng (Đà Nẵng) – nơi hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1927 – 1929) ( Nguồn : Bảo tàng Đà Nẵng, Đà Nẵng - di tích và thắng cảnh, NXB Đà Nẵng, 2009, tr.72)
      Cùng với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức Tân Việt cũng được hình thành. Mùa hè 1928, Tân Việt hoạt động mạnh mẽ tại Đà Nẵng với việc mở hiệu sách ở trung tâm thành phố ( nay là đường Phan Châu Trinh ), chuyên bán sách báo tiến bộ của Quan Hải tùng thư

      Tháng 10 - 1929, Đảng bộ Đông Dương Cộng sản đảng được thành lập tại Hội An. Trên đường phố ở Đà Nẵng xuất hiện nhiều truyền đơn kêu gọi giải tán Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để thành lập Đảng Cộng sản. Cuối năm đó, Thị ủy Đảng Cộng sản ở Đà Nẵng được thành lập do Nguyễn Thiều làm Bí thư.

      Đến tháng 2 - 1930, các hội viên Tân Việt ở Đà Nẵng chuyển sang gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 28-03-1930, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam ra thông cáo thành lập Đảng bộ, trong đó nêu rõ : " Các đồng chí trong Chi bộ An Nam cộng sản đảng và Chi bộ Tân Việt cách mạng đảng ở Tourane từ nay được coi như là chi bộ của Tỉnh ủy Lâm thời Quảng Nam, cấm mọi hoạt động biệt phái..." ( Tài liệu Ban nghiên cứu Lịch Sử Đảng Quảng Nam - Đà Nẵng ).

       Sự thống nhất về tổ chức và trưởng thành về lực lượng của Đảng là chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Đà Nẵng trong những giai đoạn đầy thử thách trước khi đi tới thắng lợi hoàn toàn.

2. Đà Nẵng trong cuộc vận động cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng Cộng sản Đông Dương xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, tập hợp và huy động mọi lực lượng dân tộc sẵn sàng khởi nghĩa dành chính quyền khi thời cơ đến

      Ngày 28 - 7 - 1941, quân Nhật đổ bộ lên Đà Nẵng, tu sửa sân bay, bến cảng, chuẩn bị cho những hoạt động quân sự mới của chúng ở Đông Dương
  
      Đầu năm 1942, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam ra " thông báo khẩn cấp " vạch rõ nhiệm vụ cấp bách lúc này là " chuẩn bị đủ lực lượng chính trị, kinh tế, quân sự và phương pháp để đánh đổ kẻ thù Pháp và Nhật cùng bọn Việt gian..."

     Tháng 3 - 1945, sau khi đảo chính lật đổ thực dân Pháp trên toàn Đông Dương, phát xít Nhật đưa Tôn Thất Gián lên làm Tỉnh trưởng Quảng Nam và Nguyễn Khoa PHong làm đốc lí Đà Nẵng, nhanh chóng tổ chức bộ máy hành chính, quân sự và các tổ chức đoàn thể xã hội thân Nhật.

     Tháng 5 - 1945, Việt Minh tỉnh Quảng Nam với mật danh là Vụ Quang được thành lập. Tháng 6 - 1945, Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng được triệu tập tại Thọ Khương  đề ra chủ trương đẩy mạnh tuyên truyền, phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng các đội du kích vũ trang và quyết định tăng cường Huỳnh Ngọc Huệ, Tỉnh ủy viên, trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng lực lượng trong thành phố.

     Ngày 14 - 8 - 1945, Tỉnh ủy Quảng Nam triệu tập hội nghị mở rộng tại Tam Kì. Căn cứ vào chỉ thị của Trung ương ngày 12 - 3 - 1945, Tỉnh ủy quyết định phát động khởi nghĩa trong toàn tỉnh. Quyết định đúng đắn này thúc đẩy các địa phương nhanh chóng nổi dậy khởi nghĩa dành chính quyền.

    Ngày 18 - 8 - 1945, quần chúng cách mạng làm chủ Hội An, chiếm dinh Tỉnh trưởng. Cùng ngày, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Thăng Bình, Tam Kì và sau đó một ngày là Tiên Phước khởi nghĩa thành công, chính quyền về tay nhân dân.

     Ngày 22 - 8 - 1945, lực lượng cách mạng đã làm chủ huyện lị ở Hòa Vang. Thành phố Đà Nẵng, nơi lực lượng phát xít Nhật cũng như tàn quân Pháp tập trung đông nhất lúc này, là địa bàn cuối cùng của Quảng Nam còn nằm trong tay giặc.

     Ở Đà Nẵng, vào lúc 8 giờ sáng ngày 26 - 8 - 1945, tiếng còi tầm thành phố phát ra như một hiệu lệnh cho các lực lượng cách mạng tiến vào trung tâm Đà Nẵng, treo cờ, giăng biểu ngữ, tổ chức mít tinh công bố lệnh khởi nghĩa, tuyên bố thủ tiêu bộ máy cai trị của chế độ cũ. Các công sở được các lực lượng đại diện chính quyền cách mạng tiếp quản. Đến 9 giờ sáng, cờ đỏ sao vàng được treo khắp thành phố.


Ban vận động khởi nghĩa dành chính quyền ở Quảng Nam - Đà Nẵng ( 8 - 1945 ) ( Nguồn : Bảo tàng Đà Nẵng )