Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÀ NẴNG VÀ DANH NHÂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐÀ NẴNG VÀ DANH NHÂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2016

NHÀ CHÍ SĨ, NHÀ THƠ NGUYỄN THƯỢNG HIỀN ( 1868 - 1925 )

(Toquoc)- Nguyễn Thượng Hiền tự Đỉnh Nam, hiệu Mai Sơn, Long Sơn, Thiếu Mai Sơn Nhân, Giao Chỉ Khách, Bão Nhiệt,Đỉnh Thần, tục gọi ông Đốc Nam (vì từng làm Đốc học Nam Định). Sinh năm 1868 trong một gia đình Nho học tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội). Ông là con rể quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết. Thân phụ của ông là Nguyễn Thượng Phiên, đậu Hoàng giáp khoa Nhã sĩ niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), giữ chức Tham tri Bộ công, rồi Thượng thư Bộ Công niên hiệu Thành Thái (1889).
Thuở nhỏ, Nguyễn Thượng Hiền đã bộc lộ tư chất thông minh, hiếu học. Tuy nhiên, do thời vận thay đổi, con đường khoa danh của ông lại gặp nhiều khó khăn, trở ngại.
Nguyễn Thượng Hiền đỗ Cử nhân năm Giáp Thân (1884), sau một thời gian đợi chờ, trèo đèo vượt suối đến trường thi Thanh Hóa. Năm Ất Dậu (1885), ông thi Hội đáng lẽ đỗ đầu, nhưng chưa kịp xướng danh thì kinh đô Huế thất thủ. Năm 1892, ông ra thi Đình, đỗ Hoàng giáp, song do lúc bấy giờ đất nước rơi vào tay giặc Pháp, lại chưa thỏa mãn đậu nhị giáp tiến sĩ nênNguyễn Thượng Hiền lui về ở ẩn tại núi Nưa (Nga Sơn, Thanh Hoá), không chịu ra làm quan. Ít lâu sau, triều đình thúc ép ông ra nhận chức, hậu bổ làm Toản tu Quốc sử quán, biên soạn quốc sử về triều Nguyễn, rồi thăng Ðốc học ở Ninh Bình (1901), Hà Nam (1905), Nam Định (1906). Nhận chức quan nhỏ, “quan bất phiền, dân bất nhiễu”, Nguyễn Thượng Hiền có thì giờ giao thiệp với nhiều nhân sĩ kinh kỳ bấy giờ như Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Nguyên Cẩn, Hoàng Mậu, Trà Quý, Nguyễn Tùng Hiên, một phần vì duyên nợ văn chương, một phần do giữa họ có chung chí hướng, quan niệm trước thời cuộc dâu bể.
Trong thời gian làm việc ở Huế, Nguyễn Thượng Hiền có sự chuyển biến rõ rệt về quan niệm đấu tranh xã hội. Ông đọc nhiều tân thư Trung Quốc, hào hứng tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, đánh giá cao các bài văn có tinh thần cách mạng, có hiểu biết rộng về thời cuộc ở châu Âu và trên thế giới, tiếp xúc, liên lạc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... lo việc cứu nước; chung sức đẩy mạnh phong trào Duy tân, cổ động, giúp đỡ thanh niên xuất dương du học. Ngoài ra ông còn lập hội cứu tế ở Huế và Hà Đông. Năm Đinh Mùi (1907), vua Thành Thái bị Pháp phế truất, Nguyễn Thượng Phiên qua đời. Lấy cớ thọ tang cha, ông đã xin tạm nghỉ việc quan, gấp rút sửa soạn xuất dương tìm đường cứu nước. Cuốn Ký ức lục của Dương Bá Trạc có đoạn chép: “Năm Đinh Mùi, thân sinh ông (Nguyễn Thượng Hiền) mất, ông lập tức lấy cớ đinh ưu cáo về. Tang sự xong, ông liền ra Hà Nội mưu với tôi việc khứ quốc. Ông có chí ấy đã lâu, chỉ dùng dằng đợi cho tròn đạo hiếu với cha mới thực hiện ý định được. Bấy giờ chúng tôi đóng cửa một hiệu thuốc gọi là Nam Thọ, đón ông ở tạm đấy, làm thầy thuốc để lo sắp đặt rồi đi; đúng ngày tốt khốc cụ thân sinh ông về nhà làm lễ xong là thất tích biệt. Tôi đưa ông ra tới Đông Hưng thế là ông bỏ hết vợ con nhà cửa, cơ đồ phú quý mà dấn thân vào con đường cách mạng”… Để che mắt Pháp, Nguyễn Thượng Hiền đã cải trang Hoa thương, bí mật qua đường duyên hải sang Trung Quốc gặp gỡ những nhà cách mạng Việt Nam nhờ họ giúp thế lực. Ở Trung Quốc, Nguyễn Thượng Hiền gặp Lưu Vĩnh Phúc, Tán Thuật… cùng bàn bạc việc nước. Ngoài ra ông còn giúp đỡ được nhiều học sinh Việt Nam bị chính phủ Nhật Bản trục xuất hoặc được tham gia học ở Bắc Kinh, hoặc được cấp học bổng, bổ dụng và cấp giấy tờ để có thể tham gia hoạt động chính trị. Ở Trung Quốc, Nguyễn Thượng Hiền gặp gỡ, sau đó cùng Phan Bội Châu sang Nhật hưởng ứng phong trào Đông Du. Ở Nhật, ông theo chủ trương bạo động của Phan Bội Châu, hoạt động trong Hội Công hiến. Năm 1912, Duy Tân hội cải tổ lại, Việt Nam quang phục hội được thành lập, Nguyễn Thượng Hiền được bầu làm ủy viên Bộ Bình nghị đại biểu cho Bắc Kỳ. Quyển Phan Bội Châu niên biểu ghi lại sự kiện này như sau: “Tháng 5 năm Mậu Thân (1908), tôi từ Xiêm về, gặp ông ở Quảng Đông, mời ông sang chơi Nhật Bản. Trước hết, tôi gửi điện cho Đồng Văn thư viện dặn đến thượng tuần tháng 9, toàn thể học sinh cử đại biểu đến Hoành Tân đón tiếp để về Đông Kinh mở đại hội hoan nghênh. Nguyễn Thượng Hiền có đọc diễn văn khai hội và làm một bài trường thiên khuyên học sinh, có câu rằng: Cơm xào thịt giặc mới no/ Canh nêm máu giặc mới ngon... Ông lại làm Viễn hải quy Hồng (Chim hồng ở bể xa bay về), đều đưa in gửi về nước”. Các sáng tác của Nguyễn Thượng Hiền gửi về nước đều được giới trí thức hoan nghênh, đón nhận, tin tưởng, vận động, lôi cuốn được nhiều thanh niên ưu tú đi theo cách mạng ở khắp các tỉnh thuộc cả ba kỳ. Năm 1913, Phan Bội Châu bị quân phiệt Trung Quốc bắt giam, Nguyễn Thượng Hiền được giao đảm trách tổ chức các hoạt động của Hội. Năm 1915, ông được Tổng bộ của Hội Việt Nam quang phục hội cử sang Thái Lan giao thiệp nhờ hai viên công sứ Đức và Áo đóng tại Băng Cốc trợ giúp; cùng đi có Đặng Tử Kính. Sau Việt Nam quang phục hội bị đàn áp, ông phải bôn tẩu khắp nơi, cuối cùng do thất chí, giảm sút nghị lực và tiến thoái lưỡng nan, ông đã tựa nương bóng Phật tại chùa Thường Tịch Quan Lan Nhược trên núi Vân Sơn ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Nguyễn Thượng Hiền mất ở đó ngày 28 tháng 12 năm 1925. Ông có lời trối dặn lại trước lúc mất rằng: “Khi nào tôi chết hãy đem xác đi thiêu và vất tro xuống sông Tiền Đường”… Nhận được tin ông mất, Phan Bội Châu có đặt bàn thờ tại nhà riêng ở Bến Ngự (Huế). Bài điếu văn của Phan Bội Châu có câu: “Lửa can tĩnh thiêu xương người khí tiết, sống thanh cao mà chết cũng thanh cao; đời văn minh mỏi mắt chốn quê hương, danh viên mãn những chí chưa viên mãn…”, “Gót bôn tẩu trải bao phen nguy hiểm, khi Hương Cảng, khi Quảng Đông, khi Long Châu, khi Băng Cốc, tức tối đất không dụng võ, giọt khấp đình ai nếm máu Thân Tư: Thuốc cứu đời toan mượn ngón văn chương, nào Yên Kinh, nào Tam Tỉnh, nào Ngô Quận, nào Hán Thành, ngậm ngùi trời chẳng chiều người, phương y thuốc khó ra tay Biền Hoãn; Ngoài năm chục thân già lận đận vóc hạc mình mai; Hai mươi năm hồn mộng đi về sông Lô núi Tản…”.
Chân dung Nguyễn Thượng Hiền
Nguyễn Thượng Hiền là một nhà cách mạng yêu nước, thiên về khuynh hướng dân chủ, cổ vũ duy tân, từ bỏ lập trường quân chủ, quan điểm Nho giáo lỗi thời. Những hoạt động nhiệt thành của ông trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục, phong trào Đông du, Việt Nam quang phục hội… có đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX.
Nguyễn Thượng Hiền còn là một nhà văn hóa lớn, một thi sĩ tài hoa nổi tiếng trong giới sĩ phu đương thời. Ông đã để lại một sự nghiệp văn học đa dạng, gồm hơn 600 bài thơ, văn bằng chữ Hán, chữ Nôm, sáng tác trong khoảng 30 năm, từ 1885 đến 1918. Sáng tác thơ văn ở Nguyễn Thượng Hiền chủ yếu nhằm vận động chính trị, cổ vũ đấu tranh, phục vụ công cuộc cứu nước.
Nam chi tập là tập thơ văn đáng kể nhất của Nguyễn Thượng Hiền, chia làm ba quyển. Quyển thượng gồm những bài thơ ông làm khi chưa ra nước ngoài. Quyển trung gồm những bài thơ được sáng tác trong giai đoạn 1907-1919. Quyển hạ gồm những bài văn xuôi kêu gọi cứu nước, duy tân, thuật chuyện một số nhà ái quốc đương thời. Nam chi tập được xuất bản tại Trung Quốc năm 1925, do Chương Bính Lân viết lời tựa. Cuốn thơ văn này có giá trị lịch sử, văn chương đặc sắc. Có thể tìm thấy ở đó hiện thực đất nước cùng diễn biến tâm tư tình cảm chân thành của tác giả - tâm hồn thi sĩ, lời lẽ thiết tha, thúc giục; ý chí chiến đấu cao, lời lẽ chặt chẽ, hùng hồn; tập trung tố cáo tội ác của bè lũ thực dân, lời lẽ đanh thép, gay gắt; miêu tả nỗi cơ cực của dân tộc, nhân dân, lời lẽ buồn da diết, thấm nỗi tủi hổ. Nam chi tập bộc lộ lòng yêu nước sâu sắc, ý thức trách nhiệm thường trực và lòng căm thù giặc của Nguyễn Thượng Hiền. Các bài Ký Long Thành chư hữu, Tức sự, Long Thành thu nhật, Tống vân phong đạo nhân bắc du, Long Biên tây quách tản bộ hữu cảm… cho thấy con người và vùng đất Hà thành giữ một vị trí quan trọng trong thơ ông. Phan Bội Châu nhận xét thơ ông: “Kiểu theo Thịnh Đường, văn khuôn Tiền Hán”.
Nguyễn Thượng Hiền cũng chân thành trong các trang truyện ký lịch sử. Ông dùng những câu văn giản dị phác họa vẻ đẹp cao cả của các nhân vật lịch sử Tăng Bạt Hổ, Phạm Hồng Thái, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Cao, Lê Tăng Trai, Nguyễn Thận Sinh, Tôn Thất Đạm… Văn Nguyễn Thượng Hiền toát lên chí khí quyết tâm của phái cách mạng bạo động. Chính ông cũng đại diện cho mẫu hình tư tưởng tiến bộ của sĩ phu Bắc kỳ ngay sau Phan Bội Châu.
Ngoài Nam chi tập, Nguyễn Thượng Hiền còn có Viễn hải quy Hồng, Hát Đông thư dị; thơ điếu, tiễn biệt Hoàng Hoa Cương, Hồ Hán Dân, Hoàng Hưng; thư gửi Nguyễn Lộ Trạch; câu đối chữ Hán; thơ, phú Nôm (Bài phú cải lương, Thuyết hợp quần doanh sinh, Chơi Sài Sơn…).
Trong nền văn chương yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nguyễn Thượng Hiền đã có một địa vị xứng đáng. Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền cả chữ Nôm lẫn chữ Hán đều chứa đựng tình cảm thấm thía, tư tưởng sâu sắc, với nhiều giằng xé dằn vặt. Ban đầu tư tưởng, tình cảm của ông phát triển theo hướng tiêu cực, nửa muốn thoát ly trần tục, nửa vẫn nặng một mối sầu mơ hồ do chưa tìm thấy đường đi và chịu ảnh hưởng của đạo Lão, đạo Phật:
Hiển khởi văn oanh hoán
Xuân hàn tọa thảo đường
Tình hà cách thủy đạm
Mai liễu nhật song hương
Bạch nhật thôi nhân sự
Thanh sơn khuyến khách trường
Dạ lai hương quốc mộng
Thiên mẫu tận canh tang
(Sơn phòng xuân văn)
Dịch:
Sớm mai dậy nghe chim oanh hót
Xuân lạnh ngồi trong nhà tranh
Cách mặt nước, Ngân hà ánh nhạt
Vào cửa sổ, mai liễu đưa mùi thơm
Mặt trời giục việc người đời
Non xanh khuyên khách uống rượu
Đêm mộng thấy làng nước
Ngàn mẫu đều cấy lúa, trồng dâu
Đó là chân dung Nguyễn Thượng Hiền trong thơ, một Nguyễn Thượng Hiền bình lặng, gắn bó, hòa làm một với thiên nhiên, cảm thụ thiên nhiên theo tinh thần của Đạo giáo. Càng về sau, do chứng kiến những biến cố đau xót của nước nhà, nếm trải mọi cảnh sống, giao thiệp với Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… ông từ bỏ lối viết đài các ủy mị, ước mơ xa xôi thoát tục, chuyển dần sang văn phong hiện thực, lời lí mạnh mẽ, cương quyết, tràn đầy nhiệt huyết cách mạng. Nguyễn Thượng Hiền là nhà nho trung nghĩa, đồng thời cũng là nhà nho ẩn dật, một nhà thơ yêu nước. Ông đem cả cuộc đời cống hiến cho Tổ quốc, dùng thơ văn để cổ động cứu nước và duy tân. Cái nhìn mới mẻ, tấm lòng yêu nước, thương dân của ông đã có tác dụng kích thích lòng căm thù thực dân đế quốc, khơi gợi những tình cảm dân tộc sâu sắc ở người đọc.

QUAN HOÀNG DIỆU (1828 - 1882).

Chân dung Hoàng Diệu
Hoàng Diệu là một vị quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882. Hoàng Diệu còn có tên là Hoàng Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, sinh ngày 10-2-1828, trong gia đình nho học ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thơ văn từ năm 16 tuổi. Năm 20 tuổi đỗ cử nhân (1848), 26 tuổi đỗ phó bảng (1853); được bổ Tri huyện Tuy Phước, thăng Tri phủ Tuy Viễn (cùng trong tỉnh Bình Định).Do lầm lẫn án tù nên bị giáng chức, đổi về Tri huyện Hương Trà (Thừa Thiên), sau phục chức Tri huyện Đa Phước, rồi thăng Án sát Nam Định, Bố chánh Bắc Ninh. Năm 1877, làm Tham tri bộ Hình, rồi Tham tri bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần.
Năm 1878, làm Tuần vũ Quảng Nam, thăng Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An - Hà Tĩnh). Năm 1879 được triệu về kinh, lãnh chức Toàn quyền đại diện triều đình đàm phán với sứ bộ Tây Ban Nha. Năm 1880, được bổ Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội - Bắc Ninh) làm Thượng thư bộ Binh, trông coi cả việc thương chánh. Thuộc phái chủ chiến trong triều đình Tự Đức lúc bấy giờ, ông là người tích cực bảo vệ chủ quyền độc lập của đất nước. Khi nhậm chức Tổng đốc Hà Nội, ông ra lệnh quân sĩ tích cực lo việc bố phòng, đề cao cảnh giác địch. Hoàng Diệu đã mấy lần báo lên triều đình xin cho thêm quân nhằm đối phó lại âm mưu địch và ra lệnh giới nghiêm thông báo đi các tỉnh để kịp đề phòng. Vua Tự Đức lúc này lại hạ chiếu quở trách là “đem binh dọa giặc và xử lý không thích hợp”!
Ngày 25-4-1882, sau 3 giờ đưa tối hậu thư buộc phải đầu hàng, H. Rivière ra lệnh nổ súng tấn công thành Hà Nội. Hoàng Diệu chỉ huy quân sĩ chống trả quyết liệt. Bản thân ông lên mặt thành đốc suất cuộc chiến đấu. Trước sức uy hiếp của giặc, một số quan văn, quan võ bỏ trốn. Có người chạy theo giặc như Án sát Tôn Thất Bá.
Thấy quân Pháp nã pháo vào thành, Tôn Thức Bá hoảng sợ trốn chạy. Sau đó, người này thân tìm đến nơi quân Pháp đồn trú xin thông báo tình hình trong thành hòng mong được người Pháp đoái công. Không những thế, y một mặt dâng sớ lên Vua Tự Đức đổ tội cho Hoàng Diệu, một mặt xin với giặc cho y làm Tổng Đốc Hà Ninh.
Một trận kịch chiến xảy ra từ sáng đến trưa. Quân ta, dưới quyền chỉ huy của Hoàng Diệu đã anh dũng chiến đấu, giết chết hàng trăm tên giặc.
Cuộc chiến đang ác liệt thì bất ngờ kho thuốc súng nổ, lửa bốc cháy ngùn ngụt. Đám cháy càng lan rộng, tinh thần quân Việt càng hoang mang, hàng ngũ càng rối loạn. Quân giặc thừa cơ bắc thang trèo vào, phá cổng thành phía tây rồi ồ ạt kéo vào như nước chảy.
Trong vòng khói lửa ngợp trời ấy, Hoàng Diệu, tay vẫn cầm thanh kiếm tuốt trần, hăng hái xông pha trong mưa đạn.
Dù quyết tâm bảo vệ thành, nhưng trước thế tấn công như vũ bão của quân Pháp và lực lượng quân triều đình ngày càng mỏng hơn, cuối cùng, Hoàng Diệu đành hạ lệnh cho quân lính giải tán để tránh thương vong.
Còn lại một mình, Hoàng Diệu quay vào hành cung cắn đầu ngón tay lấy máu thảo di biểu tạ tội với nhà vua. Trong bức di biểu, Hoàng Diệu viết:
“Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng...”
Sau đó, Hoàng Diệu đi thẳng đến cửa Võ Miếu, cởi chiếc khăn đang bịt trên đầu, treo mình lên cành cây trước miếu mà tuẫn tiết đúng vào giờ Ngọ. Khi ấy, ông mới 54 tuổi .
Khâm phục trước tấm gương quan Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu thà chết chứ không chịu luồn mình dưới chân giặc, nhân dân và sĩ phu Hà thành lập bàn thờ ông bên cạnh vị quan Tổng đốc tiền nhiệm Nguyễn Tri Phương tại đền Trung Liệt trên gò Đống Đa.
Tôn Thất Thuyết – một đại thần nổi tiếng theo đường lối chống Pháp – thương tiếc Hoàng Diệu mà viết lên đôi câu đối:
“Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm”
Nghĩa là:
“Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước
Bình sinh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm”.
Ngày nay, tên của ông được chính quyền và nhân dân thủ đô Hà Nội đặt cho con đường rất đẹp chạy phía tây thành cổ, song song với phố Nguyễn Tri Phương. Bàn thờ ông cũng được lập bên cạnh bàn thờ quan Tổng đốc tiền nhiệm Nguyễn Tri Phương trên vọng lâu Bắc Môn. Quanh người dân khắp nơi đều tới thắp nhang tri ân hai vị anh hùng quên mình vì thành Hà Nội.
Thấy tình thế nguy ngập đến nơi, không thể giữ được thành, Hoàng Diệu vào Hành cung, thảo di biểu gởi vua Tự Đức, rồi sang Võ miếu, dùng khăn nhiễu bịt đầu, treo mình trên cành táo tự vẫn. Năm ấy ông vừa tròn 54 tuổi. Cái chết của Hoàng Diệu đã gây một sự xúc động lớn trong nhân dân, binh lính và tầng lớp sĩ phu cả nước lúc bấy giờ. Giới sĩ phu Hà thành đã họp nhau lại tại trường Hàng Bông, tổ chức lễ truy điệu người anh hùng rất trọng thể. Có rất nhiều thơ điếu và câu đối tiếp tục ngợi ca con người nghĩa khí. Linh vị ông được thờ tại miếu Trung Nghĩa (Huế) và đền Tam Trung (Hà Nội).
Ngày nay, tên của ông được chính quyền và nhân dân thủ đô Hà Nội đặt cho con đường rất đẹp chạy phía tây thành cổ, song song với phố Nguyễn Tri Phương. Bàn thờ ông cũng được lập bên cạnh bàn thờ quan Tổng đốc tiền nhiệm Nguyễn Tri Phương trên vọng lâu Bắc Môn. Quanh người dân khắp nơi đều tới thắp nhang tri ân hai vị anh hùng quên mình vì thành Hà Nội.
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Hoàng Diệu dài 1.980m, rộng 10,5m, nối đường Phan Châu Trinh với đường Duy Tân (qua khu vực chợ Mới) ở ngã năm.

CHÍ SĨ THÁI PHIÊN (1882-1916).

Tượng Chí sĩ Thái Phiên
Thái Phiên biệt hiệu là Nam Xương, sinh năm Nhâm Ngọ(1882) tại làng Nghi An, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (Nay là Quận Cẩm Lệ - TP Đà Nẵng).
Lúc còn thiếu thời theo đòi Nho học, về sau ông xuống Đã Nẵng học thêm Tây học. Thái Phiên nổi tiếng thông minh, sống tại một vùng đất thuộc địa của Pháp, Thái Phiên đã chứng kiến tận mắt những nỗi đau lòng của người dân mất nước. Năm 1904, Phan Bội Châu lập "Duy Tân Hội" với mục đích phát triển thế lực chuển bị vũ trang bạo động.
Thái Phiên là một trong những người sáng lập, đã có những đóng góp quan trọng trong công tác kinh tài, giúp cho Hội có điều kiện hoạt động. Về sau ông còn đảm nhiệm thêm công việc liên lạc, tuyên truyền và cổ động. Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, ông và nhà yêu nước Trần Cao Vân đã để nhiều thời gian, tâm lực, bí mật chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa rộng rãi. Thực dân Pháp tăng cường bắt lính người Việt đi làm bia đỡ đạn...
Thái Phiên và Trần Cao Vân đã len lỏi trong hàng ngũ của họ để vận động phản chiến và tuyên truyền khởi nghĩa. Các ông cũng lôi kéo được Vua Duy Tân, một ông vua trẻ có tinh thần yêu nước. Một kế hoạch khởi nghĩa đã được quyết định, theo tinh thần đó, đêm ngày 3/5/1916, khởi nghĩa sẽ bùng lên trước tiên ở Huế, binh lính nổi dậy từ bên trong, nghĩa quân từ ngoài đánh vào. Từ Huế khởi nghĩa sẽ lan ra Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.... 10 giờ đêm Vua Duy Tân vừa ra khỏi Hoàng thành, Thái Phiên sắp phát lệnh khởi nghĩa thì lính Pháp kéo đến. Kế hoạch bị lộ, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt, Vua Duy Tân bị đi đày, Thái Phiên và Trần Cao Vân bị bắt và bị xử tử hình ngày 17/5/1916. Lúc đó Thái Phiên 34 tuổi.

ANH HÙNG LIỆT SĨ LÊ ĐỘ (1941 - 1965)

Chân dung Anh hùng liệt sĩ Lê Độ
Lê Độ tên khai sinh là Lê Dậu, quê làng Mỹ Thị, nay thuộc phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng. Xuất thân trong gia đình yêu nước. Thân phụ là Lê Duy Ban tham gia kháng chiến chống Pháp, bốn anh em tham gia cách mạng, đều là liệt sĩ. Năm 15 tuổi (1957) Lê Độ làm liên lạc viên cho cơ sở Sông Đà, do ông Nguyễn Trí Quang làm Bí thư. Đầu năm 1963, Lê Độ gia nhập đơn vị đặc công thuộc đội biệt động thành phố Đà Nẵng. Thời gian này, anh thường sử dụng chiếc ghe nhỏ đưa đón cán bộ qua lại sông Hàn, liên lạc với các cơ sở bí mật nội thành.
Sau những ngày điều tra số sĩ quan Mỹ thường lui tới, ăn uống ở Modern Hotel (nay là khách sạn Bạch Đằng), chiều ngày 5-4-1965, Lê Độ dùng mìn bọc trong vỏ đựng máy thu thanh, đem đặt ở phòng lễ tân của khách sạn để diệt bọn Mỹ. Chẳng may, việc bị bại lộ, anh bị bắt và xử bắn ngày 15 tháng 04 năm 1965.
Ngày 20-5-1965, Lê Độ được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Thành Đồng hạng II. Năm 1997, Lê Độ đã được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu: "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Lê Độ dài 600m, rộng 10,5m, nối đường Trần Cao Vân đến ngã tư Điện Biên Phủ thuộc quận Thanh Khê.
Trường THCS Lê Độ tại TP Đà Nẵng

TRẦN CAO VÂN (1866 - 1916)

Chân dung Trần Cao Vân
Trần Cao Vân còn có tên là Trần Công Thọ, sinh năm 1866, khi đi học lấy tên là Trần Cao Đệ, khi tham gia hoạt động cứu nước lấy tên là Trần Cao Vân, nay thuộc xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nổi tiếng thông minh từ nhỏ.
Năm 1887, sau thất bại của phong trào Nghĩa hội Quảng Nam với kết thúc đầy tính chất bi tráng của hai lãnh tụ Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến, Trần Cao Vân tìm cách ẩn mình, vào tu ở chùa Cổ Lâm (huyện Đại Lộc).
Năm 1892, ông vào Bình Định, mở trường dạy học, làm thầy địa lý và bói quẻ. Chỉ trong vài năm, ông đã nổi tiếng, được nhiều thân chủ tín phục. Năm 1896, Trần Cao Vân làm cố vấn cho cuộc khởi nghĩa của Võ Trứ (Phú Yên). Nhờ sự khẳng khái nhận hết trách nhiệm về mình của Võ Trứ, nên Trần Cao Vân sau 11 tháng bị giam ở nhà ngục Phú Yên được trả tự do.
Ông còn là tác giả công trình nghiên cứu, dịch thuật về Kinh dịch (của Trung Hoa) mà ông lấy tên là Trung thiên dịch. Công trình này bị thất lạc, đến nay không tìm thấy.
Trần Cao Vân sáng tác một số thơ chữ Hán và chữ Nôm nói lên chí hướng và hoài bão của ông cùng những quan niệm về nhân sinh, về vũ trụ.
Năm 1900, trở về Bình Định, tiếp tục dạy học trò và bắt đầu phổ biến thuyết “Trung thiên dịch”. Ông bị bắt và bị kết tội đã phổ biến “yêu thơ, yêu ngôn”, “xúi giục dân làm loạn”, và bị kết án tử hình, tư về triều, sau hạ xuống còn 3 năm khổ sai.
Năm 1908, khi phong trào Kháng thuế, cự sưu nổ ra ở Quảng Nam, ông bị bắt và bị kết án khổ sai chung thân, đày ra Côn Đảo, đến năm 1914 được ân xá. Năm 1915, ông tham gia Việt Nam Quang phục hội và cùng với Thái Phiên trở thành 2 nhân vật chủ chốt trong cuộc khởi nghĩa năm 1916. Kế hoạch mưu khởi bị bại lộ, Trần Cao Vân, Thái Phiên cùng vua Duy Tân bị Pháp bắt trên đường đào thoát ở ngoại ô Huế. Vua Duy Tân bị Pháp đày sang đảo Réunion thuộc châu Phi, còn Trần Cao Vân và Thái Phiên bị chém tại pháp trường An Hòa. Thi hài của hai ông được chôn chung một huyệt tại một ngọn đồi ở ngoại ô Cố đô Huế.Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Trần Cao Vân dài 3.970m, rộng 10,5m, nối đường Quang Trung với đường Điện Biên Phủ.

PHAN CHÂU TRINH (1872 - 1926)

Tượng Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp phát động phong trào Duy Tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Phan Châu Trinh, tự là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, Hy Mã, sinh năm Nhâm Thân (1872) tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ nổi tiếng thông minh, học giỏi, đỗ cử nhân (1900), đỗ phó bảng (1901). Năm 1903, ông được bổ thừa biện bộ Lễ. Chính vào thời gian làm việc ở kinh đô Huế, ông có dịp tiếp xúc với tân thư của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, sách của các nhà cách mạng dân chủ Âu Tây cùng những kế sách của Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ.
Từ đó, ông bước đầu nhận thức ra con đường cứu nước mới, nên ông đã từ quan, đi tìm một phương sách cứu nước. Năm 1904, ông cùng hai người bạn đồng hương và cũng là đồng chí (Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp) phát động phong trào Duy tân ở Quảng Nam.
Đầu năm 1906, ông ra Bắc bàn với thân sĩ Bắc Kỳ về phong trào Duy tân, tham gia giảng dạy ở Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. Ông còn lên tận Phồn Xương thuộc chiến khu Yên Thế, gặp Hoàng Hoa Thám, rồi tìm đường sang Trung Quốc, Nhật Bản gặp Phan Bội Châu để quan sát tìm hiểu, nghiên cứu đường lối duy tân, tự cường của Nhật. Cuối năm này, ông về nước, viết Đầu Pháp chính phủ thư (thường gọi là Thư gửi Chính phủ Pháp), trình bày những nỗi khổ cực, bần hàn của dân ta dưới chính thể bảo hộ. Bằng sự khôn khéo của mình, ông đã vận động được một người Pháp cấp tiến, lúc bấy giờ đang làm chủ nhiệm tờ Đại Việt tân báo dịch từ bản chữ Hán sang Pháp văn và đăng trên Tập san nghiên cứu của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp ở Hà Nội. Bài viết được bất ngờ tung ra, gây thành dư luận xôn xao trong tầng lớp trí thức, viên chức Pháp, Việt và được coi như là tuyên ngôn của phong trào Duy Tân.
Năm 1908, khi phong trào chống thuế, đòi giảm sưu bùng phát ở Quảng Nam, rồi lan nhanh ra 10 tỉnh Trung Kỳ, thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp. Lúc này, Phan Châu Trinh đang làm báo ở Hà Nội, nhưng thực dân Pháp viện cớ cho ông là người khởi xướng, bắt ông giải về Huế, giao cho Nam triều kết án, đày đi Côn Đảo.
Nhờ Hội Nhân quyền ở Pháp can thiệp, nên đến cuối năm 1911, chính quyền thực dân buộc phải trả tự do cho ông, nhưng đưa về quản thúc ở Mỹ Tho. Ông phản đối quyết liệt, gửi thư cho Chính phủ Pháp yêu cầu hoặc trả ông về Côn Lôn, hoặc để ông tự do sang Pháp. Thực dân Pháp cuối cùng đành chấp nhận để ông sang Pháp với người con trai là Phan Châu Dật.
Trong thời gian sống ở Pháp (1911-1925), Phan Châu Trinh đã phải tự lao động để sống, nhiều khi đói lạnh, cơ cực, nhưng không quên nhiệm vụ vận động cứu nước. Ông có nhiều quan hệ gắn bó với Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc), thường giao du mật thiết với Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh. Nguyễn Tất Thành gọi ông là “Nghi bá” (người bác kết nghĩa với cha mình) hoặc là bác và tự xưng là cháu, hoặc “cuồng điệt” (đứa cháu hăng say).
Năm 1914, chiến tranh Pháp - Đức bùng nổ, ông bị vu cáo là làm gián điệp cho Đức và bị bắt giam ở ngục Santé gần một năm. Thời gian ở Pháp, ông đã viết Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký (nói rõ nguyên nhân dẫn đến các cuộc biểu tình và minh oan cho các thân sĩ bị Pháp bắt, tù đày, đặc biệt ông đã vạch trần bản án gian trá giết chết tiến sĩ Trần Quý Cáp). Bài viết Đông Dương chính trị luận (triển khai ý kiến phê phán sâu hơn, cụ thể hơn Đầu Pháp chính phủ thư trước đó).
Cũng trong thời gian ở Pháp, ông viết các tác phẩm: Tỉnh quốc hồn ca I và II; Santé thi tập. Đặc biệt tác phẩm cuối cùng là Thư thất điều gởi cho vua Khải Định khi ông vua bù nhìn này sang Pháp với ý đồ ám muội. Có thể coi đây là một đòn chí mạng của Phan Châu Trinh đánh thẳng vào chế độ phong kiến bù nhìn lúc bấy giờ.
Tháng 6-1925, ông được Chính phủ chấp thuận cho về nước. Do làm việc quá sức, bệnh cũ tái phát, ông lâm bệnh nặng và mất tại Sài Gòn ngày 24-3-1926. Đám tang ông đã trở thành một quốc tang (Deuil national), được cử hành trọng thể ở Sài Gòn. Hơn 140.000 người tham dự cuộc tiễn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Xin nhấn mạnh: dân số Sài Gòn thời ấy chưa đến nửa triệu người.
Học giả Hoàng Xuân Hãn nhận xét đám tang Phan Châu Trinh là “một big bang”, một cuộc biểu dương lực lượng vĩ đại tinh thần yêu nước chống thực dân Pháp không phải chỉ của mười mấy vạn người ở Sài Gòn, mà là của hàng triệu đồng bào cả nước.
Ghi nhận những đóng góp của ông, chính quyền thành phố Đà Nẵng đã quyết định đặt tên một con đường mang tên Phan Châu Trinh dài 1.910m, rộng 8,5m nối đường Lê Lợi và đường Phan Đình Phùng đến đường Trưng Nữ Vương. Đây là một trong các đường phố chính và sầm uất của Đà Nẵng.
Trường THPH Phan Châu Trinh